Wow!

Pedagogy of the oppressed – Cuốn “kinh thánh” của những nhà gi áo dục thế kỷ 21

Sư phạm dành cho người bị trị – Paolo Freire’s

TÓM TẮT

VĂN HOÁ IM LẶNG. Tất cả mọi người, dù có thờ ơ hay bị chìm đắm theo đến đâu trong “văn hoá im lặng”, vẫn có thể tự suy ngẫm về thế giới của chính mình qua quá trình đối thoại với đối tượng khác, và dần nhận ra hiện thực của riêng mình về xã hội và bản thân , nghĩ về nó, và hành động theo nó

TỪ THỤ ĐỘNG ĐẾN CHỦ ĐỘNG. Thông qua quá trình trên, cái nhìn của một người yếu thế hoặc thất học đã được thay đổi đến mức anh ta không còn là đối tượng thụ động tuân theo những tác động từ xã hội.

GIÁO DỤC CHỈ CÓ THỂ LÀ CÁCH NÀY HAY CÁCH KHÁC. Giáo dục, hoặc là nơi tạo điều kiện để giới trẻ chấp nhận hiện thực xã hội, hoặc trở thành môi trường “thực hành tự do” mà trong đó con người đối diện với hiện thực một cách sáng tạo và đầy suy xét, rồi khám phá ra cách thay đổi thế giới của chính mình. (15)

SỰ THOÁI HOÁ NHÂN CÁCH, đề cập đến không những đối tượng bị đánh cắp nhân phẩm mà còn cả những người đi đánh cắp nhân phẩm của người khác rồi bóp méo quá trình hình thành nhân cách của người đó. (28)

SỰ PHỤ THUỘC. Người nông dân bắt đầu có dũng cảm để vượt qua sự lệ thuộc của mình từ khi anh ta nhận thấy rằng anh ta đang bị lệ thuộc. Còn trước đó, anh ta tuân theo người chủ của mình và nhủ “Tôi thì làm được gì nào? Tôi chỉ là một người nông dân” (47)

TỰ HẠ THẤP MÌNH. Điều này bắt nguồn từ việc “thấm nhuần” tư tưởng của thế lực đang áp bức mình. Người yếu thế nghe những lời nói về họ “là đồ vô tích sự, không biết gì, và không đủ khả năng học điều gì hết, là đồ lười biếng, ốm đói, và vô công rồi nghề” nhiều đến mức họ tin luôn điều đó là đúng. “Chỉ có ông chủ là người duy nhất biết mọi việc và đủ khả năng thực hiện nó”.. Hoặc nghĩ về về phía các nhà giáo: “Chúng em phải giữ trật tự và để thày cô còn nói. Thày cô mới là người biết, chúng em không biết gì cả”

CÓ THỂ THAY ĐỔI ĐƯỢC VIỆC TỰ HẠ THẤP MÌNH. “Họ đã từng nói chúng tôi là đồ vô công rồi nghề vì chúng tôi lười biếng và chỉ biết uống rượu. Tất cả là dối trá. Giờ đây chúng tôi là những người được tôn trọng, chúng tôi sẽ cho tất cả mọi người thấy chúng tôi chưa bao giờ lười biếng hay say rượu. Chúng tôi đã bị bóc lột”. (50)

Ý THỨC TỰ NHIÊN CỦA KẺ ĐI ÁP BỨC Kẻ đi áp bức có xu hướng biến tất cả mọi thứ xung quanh nó thành đối tượng để áp đảo. Trái đất, của cải, sản xuất, sáng tạo của con người, con người, tất cả được coi như những thứ đồ vật có thể vứt đi khi hết tác dụng. Và điều cốt yếu là làm sao để có thêm nhiều hơn nữa. Trong khái niệm văn hoá thiên về chủ nghĩa vật chất này, “sống tức là phải sở hữu và phải thuộc về đẳng cấp của những người “có của”. Họ không thể thấy rằng họ đang “bị ngạt thở trong sự sở hữu của riêng mình và bởi thế – họ không còn sống nữa; họ chỉ sở hữu mà thôi”. Đương nhiên họ tự huyễn hoặc mình trước những điều này. “Nếu những người khác không có thêm nữa, đó là vì chúng kém cỏi và lười biếng. Vì chúng “không biết điều” và “ghen ăn tức ở”, nên chúng được coi như những kẻ thù tiềm tàng”. Thường thì cơn khát áp đảo người khác này bao gồm cả sở thích muốn nhìn kẻ khác phải khổ sở. (45)

THAY ĐỔI Ở NGƯỜI BỊ TRỊ VÀ NGƯỜI ĐI ÁP BỨC. Mặc dù sự áp bức làm thoái hoá nhân cách của cả hai bên, người bị áp bức phải chủ động đấu tranh để giành lại nhân cách toàn vẹn cho cả hai phía. Người áp bức, vốn đã thoái hoá về nhân cách vì đi hạ thấp nhân cách người khác, sẽ cố gắng bám giữ quyền lực và thói quen hạ thấp người khác của mình. (32) Khi người bị đàn áp cố gắng tìm lại và nâng cao nhân cách của mình, họ tuyệt đối không được đàn áp lại người áp bức, mà phải cố gắng phục hồi nhân phẩm cho cả hai. (28) Sự mâu thuẫn giữa hai đẳng cấp được giải quyết bởi một nhân cách khác, xuất hiện trong quá trình giải phóng. Không thể xoá bỏ áp bức chỉ bằng cách hoán đổi vai trò, như thể người đàn áp đổi vai cho người bị trị. (42) Trong sự thay đổi đó chúng ta không thể nói rằng một người đã giải phóng cho chính mình hay người khác, mà phải là hai người thông qua đối thoại đã giải phóng cho nhau. (128)

KHI KẺ ÁP BỨC THAM GIA TRANH ĐẤU VÌ SỰ GIẢI PHÓNG. Khi chuyển sang vị trí của người bị bóc lột, “họ thường mang theo những tính cách nguyên bản của mình .. bao gồm cả sự thiếu tin tưởng về khả năng tư duy, khả năng mong muốn và và khả năng hiểu biết của người khác”. Họ “tin rằng họ cần phải là người thực hiện thay đổi. Họ nói về con người, nhưng lại không tin vào con người.. Tính nhân văn của một người được thấy rõ hơn bằng lòng tin của anh ta vào người khác, chính nó đưa anh tham gia vào quá trình đấu tranh của họ, hơn là một ngàn hành động giúp đỡ nhưng không có niềm tin.” (46) “Những người dẫn dắt sự thay đổi (cách mạng) không thể nghĩ về người dân, hay nghĩ hộ người dân, mà chỉ có thể là nghĩ cùng người dân.” (128)

NHỮNG GIỚI HẠN NGĂN CẢN SỰ TRỞ LẠI CỦA ÁP BỨC. Khi những người đã từng bị đàn áp thiết lập được tình thế mới, những người trước đây nắm quyền đành mất đi đặc lợi của mình và phải đứng ở vị trí ngang hàng, và như vậy họ sẽ cảm thấy bị áp bức. Bất cứ hạn chế gì với cách sống của họ đều được xem là thiếu công bằng. Với những người áp bức người khác, chỉ họ mới xứng là “con người”; những người khác chỉ là “sự vật”. (43) Hành động ngăn cản sự phục hồi lại vị trí áp bức của những người từng đi đàn áp, theo Freire, “chỉ mang tính áp bức khi nó cản trở người ta được hình thành toàn bộ nhân cách. Vì thế, những chế tài ngăn cản người (từng) áp bức trở lại vị trí cũ của mình và áp đặt những cấu trúc xã hội cứng nhắc trước đây thì không được coi là áp bức. (42)

BỘ MÁY LUẬT LỆ VÀ TÍNH NHÂN VĂN. Nếu một quyết định “trở nên cứng nhắc đến mức thành ra một bộ máy áp đặt, khía cạnh nhân văn của sự đấu tranh đã bị mất và sẽ không còn có khả năng để nói đến sự giải phóng nữa” (43)

TỪ THIỆN GIẢ VÀ SỰ HÀO PHÓNG THẬT. Từ thiện giả ban chút gì đó lên những bàn tay xoè ra của người “không có”, nhưng vẫn bảo trì quyền lực của người “có”. Hào phóng thật nằm ở chỗ “cố gắng để những bàn tay này, dù là của cá nhân hay cả một cộng đồng sẽ ít phải xoè tay ra và vái xin” mà có khả năng làm việc và thay đổi thế giới. (29)

BAN ĐẦU NGƯỜI BỊ ÁP BỨC MUỐN ĐƯỢC NHƯ NGƯỜI ÁP BỨC MÌNH. Nếu được cho một chút quyền lực, ban đầu người bị áp bức sẽ trở thành người đi áp buộc người khác. “Lý tưởng của họ là trở thành người, nhưng với họ, trở thành người là phải được đi áp bức”. Đây là hình mẫu của họ về tính nhân văn. Họ vẫn đồng hóa bản thân vào các giá trị của những người đi áp bức. Người nông dân khi được thăng chức sẽ trở nên nghiêm khắc với những người nông dân khác hơn cả ông chủ của mình. Như vậy bối cảnh của tình thế vẫn không thay đổi (30)

ĐỊNH CHUẨN VÀ TỰ DO. Mọi sự định chuẩn, như của người bị trị dành cho người đi áp bức, đều áp đặt lựa chọn của người này lên người kia và thay đổi ý thức của người đó theo quan điểm của mình. Điều này rất đáng sợ, bởi nó khiến người phục tùng phải tự thay đổi hình ảnh mình thành một người độc lập, có trách nhiệm trong mắt của kẻ áp bức. (31). Người bị trị học được rằng nếu không có tự do, họ không thể thật sự tồn tại, nhưng đồng thời họ cũng sợ phải thật sự tồn tại. Bên trong họ chứa đầy mâu thuẫn, không biết có nên lật đổ sự áp đặt của chính mình hay không, có nên hoàn toàn là mình hay phải xẻ làm đôi, là người tự hành động theo lựa chọn của mình hay là người chỉ biết đứng nhìn và làm những gì người ta bảo, thống nhất với số khác hay chọn sự cô độc..? (33)

TÌNH THẾ CÓ THỂ THAY ĐỔI. Để người bị áp bức có thể bắt đầu công cuộc đấu tranh cho sự giải phóng của mình, họ cần “nhận thấy thực tế của sự áp bức không phải là một thế giới không lối thoát mà chỉ là một tình thế tạm thời mà họ có thể thay đổi được.” (34)

THAY ĐỔI TRONG THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI ÁP BỨC. Người áp bức chỉ có thể thực sự giúp được người bị áp bức khi anh ta thôi không coi họ là một loại hình trừu tượng mà là một cá thể đã bị đối xử không công bằng, bị làm cho cùng cực, và bị lừa dối. Điều này đòi hỏi họ phải ngừng những hành động ban phát đầy tính cá nhân. Nếu chỉ tuyên bố là con người “cần được tự do, mà lại không làm gì để khiến tuyên bố này trở thành sự thật, thì đó là một trò hề”

ĐỐI THOẠI. “Khi thay thế đối thoại bằng độc thoại, khẩu hiệu, và truyền thông nghĩa là đang nỗ lực giải phóng người bị áp bức bằng những công cụ thuần hoá. Đây là “cái bẫy của kẻ theo chủ nghĩa mị dân – biến người dân thành một đám đông điều khiển được. Con người chỉ có thể được giải phóng bằng sự tham gia một cách có suy ngẫm vào chính hành động giải phóng. (52)

ĐỘC LẬP KHÔNG THỂ ĐƯỢC TRAO NHƯ MỘT MÓN QUÀ. “Một người không tự giải phóng được chỉ từ nỗ lực của chính mình, nhưng cũng không thể nhờ người khác mà giải phóng được” (53)

TƯỜNG THUẬT MỘT CHIỀU. Trong giáo dục truyền thống, có một người tường thuật (giáo viên) và một đối tượng biết lắng nghe (học sinh). “Giáo dục đang vật vã với căn bệnh tường thuật” (57) Điều này giảm thiểu sức sáng tạo của học sinh, và “phục vụ vì lợi ích của những kẻ đàn áp, vốn là những người không quan tâm đến việc khai mở hay thay đổi thế giới”. Họ “phản ứng một cách bản năng đến bất cứ thử nghiệm giáo dục nào kích thích phản biện, không chấp nhận chỉ nhìn một phần của hiện thực,”. (60)

MÔ HÌNH GIÁO DỤC KIỂU NGÂN HÀNG biến học trò thành những tài khoản được giáo viên lấp đầy, như khi ta nộp tiền vào ngân hàng. Giáo viên đặt cọc và học sinh nhận cọc. Học sinh nhận, ghi nhớ, và nhắc lại. (58) Vì chúng ta “nhận” thế giới như một vật thể thụ động, giáo dục làm cho chúng ta thụ động thêm nữa, và điều chỉnh chúng ta vào thế giới của mình để chúng ta không thắc mắc gì về nó. Mô hình ngân hàng cố gắng kiểm soát tư duy và hành động và ngăn cản sức mạnh sáng tạo của chúng ta. Nó cố gắng duy trì sự u mê trong ý thức. Trong đó chúng ta chỉ là những người quan sát thuần tuý, không phải là những người biết tái tạo (62)

CÁC GIAI ĐOẠN CỦA MÔ HÌNH GIÁO DỤC KIỂU NGÂN HÀNG Khái niệm ngân hàng phân biệt thành 2 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất, người dạy xác định một vật/sự việc nhận diện được và chuẩn bị bài dạy. Trong giai đoạn thứ hai, người này mô tả lại sự vật/việc đó cho học sinh. (67)

“HUYỄN HOẶC HOÁ” HIỆN THỰC. Giáo dục kiểu ngân hàng cố gắng che dấu những sự thật diễn giải về cách chúng ta tồn tại trên thế giới. Giáo dục kiểu này không ghi nhận rằng chúng ta là những sinh vật lịch sử, và rằng những gì chúng ta cho là “hiện thực” đều là những điều kiện lịch sử nhất định. (71)

NHÀ LÃNH ĐẠO MỊ DÂN BẰNG CẢM HOÁ Giáo dục để giải phóng không có nghĩa là những người bị trị tự cảm thấy mình năng động và có kết quả khi đồng hoá mình với những người lãnh đạo bằng cảm hoá. Những người lãnh đạo này không thể mang lại sự giải phóng cho họ. (65)

NGƯỜI GIẢI PHÓNG, HAY CÒN GỌI LÀ GIÁO DỤC CÓ SỰ CHIA SẺ VỀ CHỦ Ý Giáo viên và học viên đồng thời cũng là người dạy và người học. Họ học từ lẫn nhau và giúp nhau cùng học (59) “Giáo viên và học sinh (người lãnh đạo và nhân dân).. đều là những chủ thể đang làm công việc khám phá hiện thực,… nhưng là tái tạo lại kiến thức đó… thông qua những suy ngẫm và hành động đồng nhất” Họ trở thành những người tái tạo vĩnh viễn của hiện thực. Đây là sự tham gia có cam kết, không phải là sự tham gia nửa vời. Học sinh khám phá rằng hiện thực là một “quá trình” trải qua nhiều biến đổi. (56) Điều này đòi hỏi bác bỏ mô hình dạy kiểu đặt cọc mà thay thế bằng việc nêu ra những vấn đề của nhân loại trong mối quan hệ với thế giới.(66)

HỌC SINH VÀ GIÁO VIÊN Việc đối thoại sẽ cho ra đời các danh từ mới- người học sinh dạy học và người giáo viên đi học. Người học sinh, trong khi đang được dạy, cũng đang dạy lại. “Họ trở nên cùng chịu trách nhiệm cho một quá trình mà trong đó mọi người đều phát triển”. Ở đây “những tranh luận trên cơ sở “người cầm quyền” không còn có giá trị (và) sự cầm quyền phải để mang lại tự do, không phải để chống lại nó… Không ai dạy một người khác, cũng không ai tự học. Chúng ta dạy lẫn nhau, dựa vào hiện thực của thế giới. (67)

GIÁO DỤC THEO CÁCH NÊU VẤN ĐỀ “Người đi dạy liên tục định hình lại sự suy ngẫm của mình dựa trên sự suy ngẫm của học sinh – người mà giờ đây trở thành một thám tử đồng nghiệp đầy suy xét qua sự đối thoại với người dạy… Giáo dục theo cách đặt vấn đề đòi hỏi liên tục phải khai mở hiện thực, tập trung cao độ về ý thức, và can thiệp đầy suy xét vào hiện thực.” (68) Đây là giáo dục với tư cách là sự thực hành tự do hơn là sự thực hành áp đặt. Nó phá tan mọi sự huyễn hoặc và lấy mốc khởi đầu là những đặc điểm văn hoá xã hội hiện tại (vốn mang lịch sử) của chúng ta. (69)

TRỞ THÀNH. Giáo dục theo cách đặt vấn đề cho phép chúng ta là những sinh vật trong quá trình “trở thành”. Chúng ta còn dang dở, và ngay cả hiện thực của chúng ta cũng vậy, và chúng ta tác động lên thế giới quanh mình qua những ý thức thay đổi của mình lên thế giới cũng như ý thức của chúng ta về thế giới. (72) Giáo dục theo cách đặt vấn đề nêu ra phương pháp giáo dục theo kiểu “ngân hàng” như một vấn đề, và nêu tình thế của chúng ta như một hiện thực lịch sử có thể thay đổi được. “Sự thoái lui nhường chỗ cho khao khát thay đổi và tìm hiểu.” (73)

SỰ TÌM HIỂU VÀ BẠO LỰC. Ngăn không cho ai đó tự ra quyết định là biến người ta thành sự vật. Bất cứ tình huống nào mà người này ngăn cản người khác không được tìm hiểu vấn đề thì đó là bạo lực. (73)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s