Đời..

Sự huyền diệu của Đàn Tranh

Vượt thời gian

 Khó mà xác định niên đại của đờn Tranh một cách chính xác, chỉ biết nó xuất hiện ở khu vực châu Á từ lâu. Cùng với nền âm nhạc cổ đại Trung quốc, đờn Tranh đã sánh vai với các loại nhạc cụ Hồ cầm, Tùy cầm, Yùe qin (Kìm), T’cheng…. Và T’cheng sau này chính là đờn Tranh Việt Nam .

Theo tài liệu của nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, miền Bắc và Trung gọi nhạc cụ này là đờn Thập lục, miền Nam thì gọi là Tranh. Cùng họ với đờn Tranh, Nhật Bản có đờn Koto 13 dây tơ hoặc dây Nylon, sau này lại có Koto 17 và 21 dây. Triều Tiên có đờn Kayakeum : Nam Triều Tiên sử dụng 13 dây, Bắc Triều Tiên sử dụng 12 dây tơ hoặc nylon như Nhật Bản.

Đến triều Nguyễn thì đờn Tranh Việt Nam mới chính thức có tước vị, được vua Thành Thái (1889-1907) hạ chiếu liệt vào dàn nhạc « Tứ Tuyệt » của cung đình (Kìm – Cò – Tranh – Độc). Vì thế, đờn Tranh có mặt trong dàn nhạc tài tử – cải lương ngay từ buổi bình minh và suốt chặng đường tồn tại và phát triển của dòng âm nhạc này . Năm 1955, nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo lại cải tiến đờn Tranh thêm một bước nữa, ông nâng số lượng dây lên 17, 19, và 21, đến nay có người sử dụng 22 dây. Hình dáng thùng đờn như cái máng xối, mỗi dây đờn là một âm (chữ nhạc), sự cách biệt giữa âm và phím bởi một « con nhạn » đội dây đờn, bao nhiêu dây là bấy nhiêu « con nhạn ». Sự sáng tạo cải tiến dây, tức là môt thao tác sáng chế cho đờn Tranh thêm nhiều âm sắc, những cung thấp tạo âm trầm rất độc đáo. Không chỉ thế, khá lâu đờn Tranh có một trong nhiều dàn nhạc : tài tử , cải lương, dân ca, nhạc Lễ, nhạc Tây, nhạc Tàu, Giao hưởNhng…. Nhưng nó « nói » bằng ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam ( Hò – xự – xang – xê – cống). Khi thực hiễn một tổng phổ Solfège nào đó (Do – Re – Mi – Fa – Sol – La – Si), tuy tín hiệu ký âm pháp theo nhạc Tây, nhưng phong cách diễn tấu và thanh âm người Việt Nam đã thổi hồn vào đó .

Những nét huyền diệu

 

Như đã giới thiệu trên, cùng họ với đờn Tranh, ở các quốc gia khác sự dụng dây tơ hoặc nylon, nhưng Tranh của Việt Nam hoàn toàn là dây kim loại, mà tính năng của loại dây này tạo âm thanh trong trẻo (trép), nhưng môt số dây ở cung thấp lại trầm ấm. Chình vì thế, trong hệ thống thanh điệu của nó được cấu trúc hài hòa, có trầm – bổng – nhặt – khoan…

Thông thường , người cảm âm cao, họ có thể mường tượng âm cao tiếng đờn Tranh luôn ré rắt như tiếng chim kêu, lúc róc rách nhu dòng suối êm đềm và trong trẻo, có lúc the thé, thanh thoát như giọng nói của các cô gái đang xuân… Các tố chất ấy, đã tạo cho đờn Tranh một  tính cách đa dạng : mềm mại, uyển chuyển, trữ tình, sâu lắng… Âm điệu réo rắt thanh xuân ấy đã tạo cho đờn Tranh một phong thái duyên dáng, tươi tắn, mượt mà và mãi mãi trẻ trung . Là loại nhạc cụ sở trường dành cho nữ giới. Các cô, các chị mặc áo dài, đội mấn ngồi đờn Tranh thì tuyệt diệu, chẳng khác nào như tranh. Bởi phong thái thyù mị, dịu dàng, sang trọng, nho nhã, duyên dáng… dù một cô gái nào đó không biết đờn Tranh, mà ngồi ôm đờn Tranh làm mẫu cũng khiến cho « thiên hạ » ngắm nhìn say sưa, đắm đuối tựa hồ trước một tuyệt đại mỹ nhân. Có lẽ, do đặc thù ấy mà đờn Tranh tham gia vào dàn nhạc cải lương, tô đậm chất trữ tình tươi mượt, tạo sắc màu âm nhạc càng phong phú.

Với những tính cách nói trên, đờn Tranh có sở trường ở điệu thức quảng (hơi quảng), nó tăng thêm khung cảnh sinh động rộn ràng về hơi điệu cho các bài bản ở nhóm này. Nét độc đáo của nó là vô đầu mỗi giai điệu, tiêu biểu bằng chữ « Á », tức chạy dây ngay nhịp đầu tiên của giai điệu hay còn gọi là lượn dây để vào âm giai. Nó còn có sở đoản, làm chức năng rao dọn tình cảm, tâm lý cho các nhân vật kịch độc diễn, như ngâm thơ, nói lối… Nó còn tham gia vào nhạc nền ( nhạc kịch) ở những lớp trữ tình hoặc dự báo cho những hoàn cảnh buồn tự sự… Ở các điệu thức khác, Bắc – Nam – Oán – Hạ.. đờn Tranh có vai trò không kém, sự có mặt của nó trong tổng phổ hòa âm, tạo sự đầy đặn âm sắc, cân bằng trạng thái tĩnh lược âm thanh về mặt thẩm mỹ trong tổng chế chương trình hoặc vở diễn. Đặc biệt là cơ cấu của nó không thể thiếu trong dàn nhạc tài tử – cải lương, nếu thiếu vắng nó là sự hút hẫng chất tươi tắn, trữ tình trong tác phẩm ca – kịch truyền thống .

Một « binh chủng » hùng mạnh

 

Qua nhiều thế hệ của dòng nhạc tài tử – cải lương Nam bộ, đờn Tranh đã có một lực lượng tiêu biểu rất hùng mạnh và đã đạt được những thành tựu âm nhạc dân tộc đáng kể . Trước tiên, là tiền nhân ta đã cải tiến hình dáng và âm sắc đờn Tranh mang đầy đủ đặc trưng dân tộc tính, đó là vóc dáng riêng và « nói » bằng ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam (dòng nhạc ngũ cung). Kế đó, nó có mặt nhiều nước trên thế giới với tư cách là đại biểu ở nhiều cuộc Liên hoan âm nhạc quốc tế và ung dung tham gia vào dàn nhạc giao hưởng, là một loại hình âm nhạc kịch bác học thế giới .

Có thể ghi nhận sơ lược từ khi phong trào đờn ca tài tử phổ biến và loại hình nghệ thuật Sân khấu cải lương phát triển, thì cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu là một trong những đại biểu của giới tài tử Bạc Liêu. Cụ Tư Nghi, thầy Giáo Thinh đại biểu của nhóm miền Đông. Kế đó là nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo, nhạc sĩ Hoàng Xuân Nhã. Sân khấu cải lương có NSƯT Bảy Bá, NSƯT Vũy Chỗ, thầy Út Du… Sau đó la những NSƯT Thanh Hải, NSƯT Văn Hai, Cơ Thụy, Duy Kim, Duy Khôi, Minh Thành, Trường Sinh, Ngọc Tuấn, Thanh Vân , Mỹ Giàu… Còn rất nhiều ngón đờn Tranh ở các câu lạc bộ khác cũng như ỏ các tỉnh, thành phía Nam. Họ là những người kế tục sự nghiệp mà tiên nhân ta đã dày công để lại, cũng là những ngón đờn tiêu biểu hiện nay mà trong quá khứ họ đã có những đóng góp cho nghệ thuật cải lương và phong trào đờn ca tài tử .

Đỗ Dũng

(bài đăng ở tuần san Sân Khấu, số 847 ( 4 tháng 6 2007) , trang 30-31, TP HCM, Việt Nam)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s