Đạo

NHÂN LỄ NGHĨA TRÍ TÍN ĐỐI VỚI NỘI TẠNG

 

Tiến Sĩ Bành Tân giảng tại Lon Đường Sơn năm 2009- Viên Đạt dịch

Kính chào quí vị lãnh đạo, quí thầy cô, quí vị khách quí, cùng quí vị phụ huynh, chào tất cả mọi người,

Đề tài hôm nay tôi muốn báo cáo với tất cả quí vị là:

Quan hệ giữa nội tạng và nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Chúng ta đều biết làm một người thầy thuốc, tâm nguyện lớn nhất của họ là làm sao để mọi người không bị bệnh, khỏe mạnh sống lâu. 10 ngày trước trước khi tôi đến đây, thầy Trần Đại Hội đã nói với tôi: “Bác Sĩ Bành, mời bác đến đây nói chuyện một buổi nhé”. Lúc đó tôi vừa nghe tin này thì việc chuẩn bị cũng chưa được tốt lắm, vì lúc đó tôi đang chăm sóc cho vợ còn trong tháng.

Qua mấy ngày lắng xuống, dần dần trong lòng tôi sáng sủa trở lại. Trên thực tế một người, chỉ cần sau khi tâm chánh rồi thì khí liền chánh, sau khi khí chánh rồi thì hình liền chánh. Vì theo lý luận đông y Trung Quốc cổ đại, con người được cấu thành bởi 3 bộ phận. Đó là 3 thể hợp nhất. 3 thể đó là gì? Chính là hình, khí và thần.

Hình, là chỉ ngoại hình của chúng ta.

Khí, là chỉ kinh lạc, khí huyết của cơ thể chúng ta.

Thần, là chỉ tinh thần của chúng ta.

Ứng với khoa học hiện đại, họ nhận thức mạng sống của con người cũng được cấu thành bởi 3 bộ phận: Vật chất, năng lượng và thông tin. Vật chất thì ứng với ngoại hình cơ thể chúng ta. Năng lượng thì ứng với một khái niệm gọi là khí trong lý luận đông y. Thông tin thì ứng với thần của chúng ta.

Về phương diện này, Đông Tây y nhận thức chúng giống nhau. Dưới đây tôi sẽ báo cáo cùng quí vị một số bệnh án trên lâm sàng tôi gặp phải, với những thể hội trên thực tế.

Tôi bắt đầu hành nghề y từ năm 2002, vào lúc đó tôi vừa học xong những tri thức cơ bản và lý luận của đông y, thường dùng phương pháp châm cứu và thảo dược để giải quyết vấn đề bệnh tật cho mọi người. Chúng ta đều biết con người bị bệnh là do 3 nguyên nhân: Nguyên nhân bên ngoài, Nguyên nhân không do bên ngoài, không do bên trong.

1. Nguyên nhân bên ngoài : Là phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa. Đây là nguyên nhân bên ngoài.

2. Nguyên nhân bên trong : Là do thất tình : Vui, giận, sầu, lo, buồn, khiếp, sợ, Đây là thất tình.

3. Nguyên nhân không do bên ngòai không do bên trong : Ăn uống, và sinh hoạt thường ngày.

Biện pháp tôi dùng lúc đó là y học cổ truyền, đã giải quyết rất nhiều bệnh tật cho bệnh nhân, nhưng tôi phát hiện có một vấn đề, là sau khi giải quyết xong bệnh tật thì thường còn sót lại một chút mà không thể trị dứt, rất khó. Sau đó, tôi cứ suy nghĩ mãi về vấn đề này. Lúc đó tôi chưa tiếp xúc với văn hóa truyền thống, Vì kết cấu tri thức của bản thân tôi chưa được hoàn bị như vậy, Lúc đó tôi chưa tiếp xúc được với nền giáo dục “đệ tử quy” này. Sau đó trong một cơ duyên thích hợp, tôi bắt đầu tiếp xúc văn hóa truyền thống, quyển sách đầu tiên tôi đọc là “Liễu Phàm Tứ Huấn”. Đó là quyển sách đầu tiên về phương diện văn hóa truyền thống. Học biết rồi là liền phản tỉnh ngay.

Trước tiên, bắt đầu phản tỉnh từ ngay bản thân mình, vì bạn chữa bệnh cho người khác, trong khi bản thân bạn vẫn còn có bệnh, thì bạn không sao chữa trị tốt cho người khác được. Chỉ sau khi chúng ta điều chỉnh hài hòa thân tâm của mình rồi, thì bạn mới biết làm thế nào điều chỉnh hài hòa thân tâm của người khác. Tôi lúc đầu thường quen cầu bên ngoài. Như bệnh của người này trị không khỏi, thì cứ luôn nghĩ phải dùng bài thuốc gì, dùng công thức châm cứu gì, dùng cách gì, để điều chỉnh khí huyết tốt hơn, điều chỉnh tạng phủ tốt hơn … Sau đó mới phát hiện phí công vô ích.

Cuối cùng tôi nói với mọi người, không phải bạn uống nhiều thuốc bổ, thậm chí tìm thầy thuốc giỏi là có thể trị khỏi được bệnh. Nói cách khác, nếu bạn không điều chỉnh tốt tâm thái của mình thì uống thuốc tốt cũng vô ích.

Vào lúc đó, tôi bắt đầu phản tỉnh mình, tôi mới phát hiện có một hiện tượng rất kỳ lạ, là sau khi bạn hiểu rõ mình rồi, thì bạn rất dễ dàng hiểu rõ người khác, điều này trên thực tế như lời của cổ nhân gọi là “Thôi kỷ cập nhân”. Nghĩa là, nếu trong nội tâm bản thân chúng ta có chướng ngại, thì chướng ngại này sẽ làm trở ngại sự thông giao của chúng ta với người khác, thầy thuốc sẽ bị trở ngại trong việc thông giao với người bệnh, cái đau khổ của bệnh nhân bạn không sao thể hội được, bạn cũng không biết làm sao giải quyết.

Trong thời gian này, tôi đã đọc rất nhiều kinh điển đông y, và rất nhiều trước tác của các y gia cổ đại, trong những trước tác của y gia cổ đại này họ đều nhắc đến một điểm, họ nói là một người thầy thuốc, điều căn bản trước tiên quan trọng nhất không phải là những kỹ thuật chữa bệnh, những kỹ thuật chữa bệnh đều là thứ yếu, các ngài nói: “Đức vi y chi bổn”. Nghĩa là, với một người thầy thuốc, điều quan trọng nhất là đức hạnh, chuyện đức hạnh thì sáng nay và cả hôm qua các vị thầy giáo đã chia xẻ rất rõ ràng với quí vị rồi. Đức hạnh có rất nhiều cách thể hiện, cách nói của cổ nhân Trung Quốc là: “Tiến dữ bệnh mưu, thối dữ tâm mưu” là có nghĩa gì vậy? Tức là tiến một bước suy nghĩ về bệnh nhân làm sao giúp họ giải quyết vấn đề, lùi một bước phải quán sát bản thân mình, sau đó lắng tâm nghĩ cách điều trị bệnh, sau đó cầu ở chính mình, nội tâm mình.

Đời Thanh có vị y gia tên là Dụ Gia Ngôn, Dụ Gia Ngôn là vị danh y đương thời, hoàng đế đã từng cho mời ông vào cung, mời gọi rất nhiều lần ông cũng không đi, y thuật của ông rất giỏi, có rất nhiều người theo học với ông. Trong trước tác “Ngụ Ý Thảo” của ông, ông đã nói trong lời tựa trước tác của mình thế này: “Rất nhiều người nói những y thuật này của tôi là biết được từ trong giấy, tức là học từ trong sách vở mà ra. Rất nhiều người cho rằng tôi học rộng nhớ giỏi, hiệu quả điều trị cũng rất tốt, nhưng trên thực tế không phải vậy”. Ông nói: “Một người thầy thuốc đích thực là phải thế nào? Là khi bạn gặp bệnh nhân, bạn có thể lắng được tâm, và thâm nhập thể hội được nỗi đau của người bệnh, khi bạn thực sự đạt đến trạng thái này, bạn có thể tìm ra phương pháp giải quyết vấn đề”.

Khi tôi mới bắt đầu phản tỉnh lại chính mình, vì mới bắt đầu nên không thể điều trị tốt cho nhiều bệnh nhân. Chưa kể sau đó tôi lại gặp khó khăn, vì sao? Vì tôi chưa thâm nhập được vào nội tâm đối phương. Chưa mở được cái khóa này thì bạn dùng bao nhiêu thuốc cũng đều vô ích. Đó là chuyện vào năm 2004, sau khi tôi đốn ngộ được điểm này, tôi liền bắt đầu áp dụng vào thực tiễn lâm sàng. Sau đây tôi sẽ lần lượt báo cáo với quí vị về một số kết quả thực tiễn của tôi. Giờ ta nói về Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

I. NHÂN

Chúng ta đều biết nhân, nghĩa, lễ, trí, tín tổng cộng là 5 phương diện, 5 phương diện này cổ nhân gọi đó là ngũ thường, là ngũ thường trong “tam cương, ngũ thường”. ‘Thường’ có nghĩa là gì? ‘Thường’ là trạng thái tự nhiên, tức là bình thường. Hôm qua khi thầy Thái giảng cho chúng ta cũng đã nhắc đến, thầy nói: “Tri thường viết minh, bất tri thường vọng tác hung,”, là một người khi họ đạt được trạng thái bình thường thì trí họ sáng. Ngược lại, không biết bình thường, không biết quy luật tự nhiên là như thế nào, tha hồ làm bậy, kết quả của nó là tai ương. Một biểu hiện của tai ương đó là bệnh tật, thậm chí sẽ sinh ra một số bệnh hiểm nghèo.

Thực tế, có rất nhiều bệnh hiểm nghèo là do chính nôïi tâm chúng ta tạo ra, trong ngũ thường điều đầu tiên là Nhân. Nhân ứng vào ngũ hành thì thuộc mộc, Ứng vào trong 4 mùa là mùa xuân. Chúng ta đều biết mùa xuân là lúc cỏ hoa tươi tốt, cũng là lúc vạn vật tràn đầy sức sống. Nó ứng vào trong trạng thái tâm lý của chúng ta là yêu thương người. Vì ý của chữ nhân này có nghĩa là yêu thương người, tức là từ bi, lương thiện, có thể thông cảm với người khác. Trời cao có đức hiếu sinh, chữ sinh này cũng có nghĩa là thương yêu, cũng có nghĩa là nhân từ. Thế thì dưỡng sinh, dưỡng sinh, suốt ngày cứ dưỡng sinh là dưỡng cái gì vậy? Là sinh, quí vị phải chú ý là sinh, không phải dưỡng tử. Sinh chính là chỉ sức sống, sức sống là chỉ sức mạnh của sự sống, ứng vào trong tạng phủ là tạng nào vậy? Chính là tạng can. Xin quí vị chú ý, can ở đây không phải là lá gan của tây y, không phải Liver, không phải cơ quan này, mà là chỉ bao gồm cả trạng thái và công năng của tạng phủ trong cơ thể, chúng ta đều biết tạng phủ, kinh lạc và thất khiếu đều liên thông với nhau. Nếu như tạng can chúng ta có vấn đề thì nó sẽ biểu hiện ra bên ngoài. Can khai khiếu ở mắt, nên mắt sẽ có vấn đề.

Khi tôi mới bắt đầu học văn hóa truyền thống, thì đầu tiên tôi phản tỉnh mình; “Nhân giả ái nhân”. Tự hỏi, bản thân mình có nhân từ hay không? Tôi phát hiện bản thân mình chưa nhân từ, vì sao? Vì tôi là con một, từ nhỏ cha mẹ tôi gởi gắm hy vọng ở nơi tôi rất lớn, sau đó bản thân tôi lại rất muốn chơi trội, trên thực tế chơi trội chính là bất khuất. Điều này sẽ dẫn đến bệnh tật. Vì nếu khí của mộc phát sinh thái quá, thì bệnh tật sẽ nảy sinh thôi.

Bản thân tôi muốn trội đến mức độ nào? Đó là trong học tập thì phải đứng đầu, đứng thứ 2 là tôi rất khổ não. Đến mức độ này là tâm phan duyên đã rất nặng. Chưa kể, trong gia đình, về phương diện hiếu thuận thì làm rất tệ, vì lúc đó chuyện học hành là số một. Những chuyện khác đều không quan trọng. Sau đó tôi mới dần dần ý thức được trên thực tế kiểu suy nghĩ này rất có hại đến người khác, kể cả chính bản thân mình, tính cách này của tôi sẽ dẫn đến can ứ khí trệ. Can ứ khí trệ thì mọi người đều biết là trong kinh can, kinh lạc của kinh can đi từ dưới chân chạy thẳng lên hai bên cạnh sườn trong cơ thể sau đó đến đầu, ở bên trong con mắt, ở mắt là biểu hiện bên ngoài, cũng như cổ nhân đã nói: “Can khai khiếu ở mắt”, cho nên khi tôi còn rất nhỏ, thì đôi mắt này đã không tốt, trên thực tế tôi thấy chính là mắt mình bị cận thị, tôi thấy điều này có quan hệ với tính cách của tôi rất nhiều, đợi đến khi tôi thấy được điểm này, thì tôi tiến thêm một bước, đưa vào thực tế từ mình suy ra người, rất nhiều người bệnh cũng có vấn đề như vậy, bệnh của họ cũng biểu hiện trên kinh lạc, biểu hiện trên kinh lạc nào vậy? Chính là kinh can.

Tôi xin kể cho quí vị nghe một bệnh án mà tôi gặp trên lâm sàng :

Bệnh nhân này họ Cao, là một bé gái, đến tìm tôi khám bệnh vào mùa hè năm nay. Bệnh của bé là u tuyến giáp trạng. Bé nói chỗ này của con rất khó chịu. Chính là ở chỗ tuyến giáp trạng. Tôi xem mạch của cháu thì thấy hai bên mạch đi rất huyền, tôi liền nói với bé rằng, bệnh của cháu như vậy có một đức tính cần phải sửa đổi, là quá bất khuất. Người quá bất khuất thì kinh can không thông, người nam thì tán ra bên ngoài, còn người nữ thì thu vào bên trong, Người nữ thì thường thu về chỗ vùng yết hầu, ở nơi này chính là nơi kinh can đi qua, kinh can sau khi đi qua yết hầu, ở nơi này một khi bị ứ trệ, thì trên dưới không thông sẽ sinh ra bệnh, Bé nói: “Đúng quá!”

Lúc đó, khi bé tìm đến tôi khám bệnh thì có cha mẹ ở bên cạnh, ba của bé đứng cạnh tôi nói: “bé từ nhỏ tính cách rất bất khuất”, bé hiện nay lái xe, bé tự mình lái xe, thấy xe của người khác vượt qua mình thì bé liền cố vượt qua họ và ép họ sang một bên, chính là tính cách này. Tôi liền nói với bé rằng:
“Tính cách này của cháu nếu như không sửa đổi, thì uống thuốc gì, điều trị thế nào cũng không khỏi, vì cái khí này còn tồn tại”.

Quí vị chú ý, cái khí này trên thực tế chính là một dạng xu thế năng lượng, tại sao nói như vậy? Vì chúng ta đều biết, cơ thể của chúng ta là do tế bào tạo nên, tế bào là do phân tử tạo nên, phân tử là do nguyên tử sắp xếp tổ hợp mà thành, sở dĩ trước đây chỗ này chúng ta không có sưng, không có u, tại sao sau đó lại có u vậy? Vì do phương thức sắp xếp của tế bào, cách sắp xếp của phân tử nguyên tử khác nhau rồi, cơ thể chúng ta trên thực tế là một thể tổ hợp của một khối nguyên tử, chúng ta sắp xếp thành hình dạng con người; sắp xếp thành hình dạng người khỏe mạnh và người có bệnh, đều do khối nguyên tử này, chẳng qua là do cách sắp xếp khác nhau mà thôi, nguyên tử nó nghe lời của ai? Là nghe theo năng lượng, tức là trường, hiện nay ngành vật lý gọi trường là trường năng, dạng khí này của bạn sẽ dẫn đến chỗ khối này có một loại trường năng, cho dù sau khi bạn giải phẩu cắt bỏ hết vùng này, nhưng trường năng ở đây vẫn còn, sau này bạn ăn uống thì những phân tử này vẫn tụ tập trở lại ở đây, sau khi tụ xong thì lớn thành u bướu, cắt bỏ vô ích. Cho nên tôi bảo cháu, trước tiên phải bắt đầu từ tính cách, hơn nữa cháu bé này còn có một đặc điểm đó là, ưa đốp chát với cha mẹ, chúng ta đều biết đây là đặc tính của mộc. Trong đặc tính của mộc rất dễ tổn thương vùng can, vì giận thì khí đi lên, một người nổi giận, đốp chát với người khác, thì cái khí này vọt lên liền, cho nên tôi bảo cháu, nếu cháu muốn khỏi bệnh thì phải thay đổi tính cách cho tốt. Nhưng phải sửa đổi từ đâu? Là phải bắt đầu sửa đổi từ việc hiếu thuận với cha mẹ. Tại sao nói như vậy? Vì “trăm điều thiện thì hiếu đứng đầu”, con người một khi hiếu thuận với cha mẹ rồi, thì hỏa khí liền hạ xuống hết, sau khi hỏa khí hạ xuống rồi, thì kinh lạc lưu thông rất dễ dàng. Kinh lạc lưu thông rồi, thì bệnh tự động khỏi thôi.

Tôi hỏi: “Có phải cháu ở nhà không phụ giúp việc nhà phải không?”

Mẹ của cháu đứng bên cạnh gật đầu ngay, bà nói cháu nó đúng như vậy. Được nuông chiều từ nhỏ nên chẳng phụ giúp việc nhà gì cả. Tôi liền nói với cháu, nếu cháu muốn khỏi bệnh, thì bắt đầu từ hôm nay, về nhà tất cả những việc nhà, cháu không nên để mẹ cháu làm nữa, vì mẹ cháu lúc đó khi tìm đến tôi khám bệnh thì tuổi đã ngoài 50 rồi. Tôi nói cháu là một người trẻ tuổi, mẹ già ở nhà mỗi ngày quét nhà, mỗi ngày làm việc nhà, rửa chén, mọi việc cháu đều không làm, cháu ở bên cạnh mà siêng ăn nhác làm để mẹ làm, hơn nữa còm đốp chát với cha mẹ, cái khí này không đúng, khí không đúng thì sẽ sinh bệnh có đúng không?

Sau khi quay đầu, bé gái này bắt đầu sửa đổi, vào ngày thứ hai trước khi tôi đến, cha mẹ cháu dắt cháu đến khám lại lần nữa, cô đưa tôi xem kết quả xét nghiệm của bệnh viện, thì khối u đã nhỏ rất nhiều rồi, lúc đó tôi cũng dùng đông dược hỗ trợ điều trị cho cháu, thực tế nếu đơn thuần dùng thuốc đông dược thì hiệu quả rất chậm.

Quí vị đều biết, khối u tuyến giáp trạng không phải nhanh như vậy, lúc đó khi cháu đến thăm tôi, cháu nói bệnh viện cũng rất kinh ngạc, không biết tại sao tiêu nhanh như vậy? Trên thực tế trong đây có một đạo lý rất sâu, là nếu tâm thái chúng ta điều chỉnh tốt, thì bệnh khỏi rất nhanh, có người nói rằng, điều ông nói là đứng từ góc độ đông y mà nói, vậy từ góc độ khoa học hiện nay mà nói thì có căn cứ hay không? Tôi xin báo cáo với quí vị, là rất có căn cứ. Vì nhà sinh lý học của đại học Tư Thản Phúc, giáo sư Ngải Nhĩ Mã, một nhà sinh lý học đại học Tư Thản Phúc Hoa Kỳ, đã từng làm một thí nghiệm rất nổi tiếng, thí nghiệm này chính là thí nghiệm hơi nước, ông thu thập hơi của những người giận dữ, buồn rầu, phiền não thở ra, ông đem hơi này cho chạy qua một cái ống nhỏ và dẫn vào trong một cái bình chứa đầy nước thuốc, màu của nước chứa trong bình này liền xảy ra thay đổi, ông phát hiện, khi người giận dữ thì hơi của họ thở ra, cuối cùng khiến cho nước biến thành màu tía, khi buồn rầu thì nước biến thành màu trắng xám, và ông lại rút nước có màu tía chích vào trong cơ thể chuột bạch, thì trong khoảng mấy phút sau chuột bạch co giật mà chết, thí nghiệm này cho chúng ta thấy rất rõ ràng, khi chúng ta giận dữ trên thực tế là đang tiết ra độc tố, hơn nữa vị giáo sư này nghiên cứu thêm môït bước và ông nói, khi con người giận dữ thì mức tiêu hao năng lượng bằng với mức tiêu hao năng lương của một người chạy 3000 m, giận trong 3 phút thì tiêu hao năng lượng tương đương với người chạy 3000 m, cũng chính là nói một người giận dữ sôi sục, thì lúc này năng lượng sống của bạn rất tiêu hao. Điều này đã minh chứng cho đạo lý của đông y, đông y nói: “Giận thì khí đi lên”, vả lại khi khí này đi lên, thì hỏa khí này sẽ làm tiêu tán hết tinh hoa của cơ thể, chúng ta không nói xa vời. Vì đạo, đạo của trời đất tự nhiên, là có phản ánh trực tiếp trên cơ thể chúng ta.

Tại sao nói vậy? Hồi tưởng một chút khi chúng ta giận dữ, thì tay chân lạnh, sắc mặt tái xanh, tại sao như vậy? Vì con người khi giận thì khí huyết bị ứ trở, khí huyết ứ trở thì biểu hiện nhanh nhất là tay chân lạnh, cho nên khi giao tiếp với người khác, đông y chúng ta có rất nhiều cách chẩn đoán, vọng, văn, vấn, thiết, trong đó thiết không phải chỉ là xem mạch.

Khi nói chuyện với người khác vừa tiếp xúc là có thể biết khái quát, cho nên khi bắt tay người khác, nếu như tay của đối phương là rất lạnh, và bạn nhìn sắc mặt của họ lại có màu xanh, thì sẽ phán đoán được người này can có vấn đề, điều này trong y án cổ đại và trong y án hiện đại đều có giới thiệu. Điều này trên cơ thể chúng ta có thể tự thể hội được. Sắc mặt tái xanh, tại sao lại tái xanh vậy? Là vì con người nổi giận tiết ra. Tôi vừa mới nói là tiết ra độc khí màu tía rất nhiều. Thứ 2,ø khiến cho thành phần trong máu xảy ra thay đổi. Thứ 3, khiến cho tuần hoàn trong mao mạch không tốt. Cho nên, quí vị đang ngồi đây, ai cũng đều có thể nghiệm này. Con người sau khi giận, là căng thẳng và mệt mỏi. Sau khi mệt xong thì có thể tay chân dễ bị tê. Tại sao? Vì mệt mỏi tức là đã tiêu hao tinh lực, tay chân tê chính là tuần hoàn không tốt.

Tại sao tôi lại đem điều này nói rõ ràng như vậy? Vì tôi đã từng giận, hơn nữa tôi cũng biết, khi vấn đề của mình thường hay xảy ra thì cũng tương thông với những vấn đề của người khác. Ngược lại với vấn đề của người khác, bạn cũng có thể tìm được đáp án trên chính bản thân mình. Cho nên về phương diện này thì lý giải của đông tây y là giống nhau, cũng đã được chứng minh bằng khoa học hiện đại. Đó là điều thứ nhất. Nói về nhân.

Nhân từ thì sẽ tốt cho can. Người nhân từ thì can huyết thông suốt, khí mạch sẽ tốt, đương nhiên là trường thọ. Cho nên nói cái cần dưỡng trong dưỡng sinh là dưỡng cho can khí tươi mới không dừng. Chúng ta đều biết Lão Tử có một câu nói là: “Nhân chi sanh dã nhu nhược, kỳ tử dã kiên cường”, sau khi chúng ta giận còn có một biểu hiện nữa là tứ chi cứng đờ, chúng ta quan sát trẻ con, quan sát hiện tượng tự nhiên thì sẽ phát hiện, khi con người càng khỏe mạnh, càng trẻ tuổi, thì gân cốt đều rất mềm mại, tuổi càng cao thì gân cốt sẽ trở nên cứng, tức là căng, căng thẳng, cho nên trong đông y có một câu danh ngôn là: “Cân trường nhất thốn, thọ diên thập niên”, là ý gì vậy? Tức là gân cốt có thể vươn dài, giãn ra rất mềm mại, đặc biệt duỗi dài, có tính co giãn, đó gọi là trường nhất thốn, thì thọ mạng của người này sẽ có thể sống thêm 10 năm. Ngược lại, nếu như gân ngắn 1 thốn thì sẽ giảm thọ 10 năm, chúng ta phản tỉnh một chút, nếu một người thường hay giận dữ, thì kinh lạc của họ sẽ bị ứ trở, sẽ thu ngắn lại, thời gian dài thì sẽ tổn giảm thọ mạng của họ, cách tổn giảm thế nào? Là sẽ dẫn đến các loại bệnh hiểm nghèo. Cho nên có rất nhiều cách thức gây ra bệnh hiểm nghèo.

Trong đông y điều đáng sợ nhất là ngũ hành sinh khắc. Cái gì khắc mộc? Là kim khắc mộc. Dưới đây cũng có một bệnh án, là một người giới tính nữ, cô bị chứng xơ gan, trên thực tế là do khí của kim quá thịnh gây nên, đây là điều nhân từ thứ nhất, ứng với ngũ tạng, là thuộc can. Tâm thái tương ứng là nhân từ bác ái. Ngược lại nếu một người thường hay giận dữ cũng sẽ dẫn đến bệnh như vậy.

II. NGHĨA.

Chúng ta đều biết: ‘Nghĩa’ là muốn chỉ cho nghĩa vụ, trách nhiệm và đạo nghĩa của một con người. Nó ứng với ngũ hành là thuộc kim. Ứng với ngũ tạng là thuộc phế. Ví dụ một người phế khí không đầy đủ, chúng ta suy ra họ về mặt nghĩa sẽ có vấn đề. Bản thân tôi là một ví dụ rất hay.

Tôi trước đây khi còn học trung học vì không chú ý nâng cao phương diện hiếu đạo, cho nên bệnh viêm mũi của tôi lúc nào cũng rất nghiêm trọng, đến nỗi cứ mỗi tối thường hay hỉ mũi, dùng giấy nhiều không biết bao nhiêu mà kể, chúng ta đều biết phế khai khiếu ở mũi. Mũi có vấn đề, chứng tỏ phế chúng ta có vấn đề, tương ứng với phế có vấn đề là phương diện nghĩa ta làm không tốt. Tại sao nói như vậy? Vì trong nghĩa vụ thì nghĩa vụ đầu tiên chính là hiếu dưỡng cha mẹ, hiếu dưỡng cha mẹ làm không tốt thì phương diện này không viên mãn, sau đó tôi phản tỉnh mình, thấy bệnh này của tôi từ khi lên đại học năm thứ 3, thứ tư thì hết, tại sao lúc đó khỏi bệnh? Mà không hề điều trị. Lúc đó tôi vẫn chưa biết kê đơn thuốc, tại sao khỏi bệnh vậy? Vì tôi càng học y càng cảm thấy nỗi khó chịu, đau khổ của bệnh nhân. Khi làm việc trong bệnh viện, tôi phát hiện rất nhiều người bệnh khi chết rất đau khổ, khắp người cắm đủ thứ ống, giãy giụa, bất lực, đau khổ lìa xa nhân thế, khi tôi nhìn thấy cảnh tượng này thì trong lòng rất buồn. Tôi liên tưởng trực tiếp đến cha mẹ của mình.

Ban đầu tôi học y là vì cảm thấy thích đông y, nhưng sau đó không thích vậy nữa. Khi tôi học đại học đến năm thứ 3 thứ 4 tôi mới ý thức được. Tôi dứt khoát không thể để cha mẹ mình rời xa cõi đời như vậy. Hơn nữa tôi không muốn cha mẹ mình vào bệnh viện, đặc biệt là làm những chuyện phẩu thuật, tôi không muốn họ như vậy. Vì đông y có cách để cho người già không bệnh mà chết, để cơ thể của họ lìa xa nhân thế một cách rất tự nhiên. Nếu như một người khí huyết không điều hòa, thì có thể thông qua các phương diện thuốc là điều chỉnh tốt, để họ khỏi phải vào bệnh viện, có thể khiến họ có được giây phút an nghỉ rất tốt. Lúc đó tôi liền nghĩ, tôi mong sau khi học y xong, tôi sẽ không để cha mẹ tôi vào bệnh viện. Tự bản thân tôi hầu hạ họ tại nhà.

Kết quả từ năm 2002, sau khi tôi học xong y khoa cơ bản, mãi đến năm 2009, thì cha mẹ tôi cũng không đi vào bệnh viện nữa, vả lại không hề uống một viên thuốc nào, khi cha mẹ tôi không khỏe tôi đều tự giải quyết hết, hoặc là dùng đông dược điều hòa cơ thể, đẩy tất cả các thứ như; phong, hàn, thử, thấp ra ngoài, hoặc là dùng châm cứu, hoặc là dùng xoa bóp, cho nên trước đây tôi về nhà thường hay xoa bóp ấn huyệt cho cha mẹ, tôi cảm thấy đó là sự hưởng thụ to lớn của đời người.

Về sau này, sức khỏe của cha mẹ tôi dần dần mỗi năm mỗi tốt hơn, trước đây do đời sống không tốt nên cha tôi đã bị bệnh tiêu hóa, mỗi khi đến mùa hè là bệnh phát, nhưng đến bây giờ bệnh đã khỏi hẳn, đây là niềm an ủi rất lớn cho việc học y của tôi. Từ sau khi năm thứ 3 thứ 4 học đại học, tôi ý thức được điểm này, thì bệnh viêm mũi của tôi tự nhiên khỏi hẳn, vậy chứng tỏ điều gì? Là chứng tỏ tâm hiếu của con người đã sản sinh thì nghĩa liền xuất hiện, sau khi nghĩa xuất hiện thì phế khí đầy đủ, phế khí đủ thì lỗ mũi nó tự động khỏi, đây là nghĩa. Mặt trái của nghĩa là gì vậy? Chính là quá khích, hành vi quá khích, tôi xin chia xẻ với quí vị một chút, nghĩa tương ứng với tinh, tinh trong văn hóa truyền thống Trung Quốc cổ đại, tinh đại biểu cho việc thu liễm, thuộc phương tây, là mùa thu. Chúng ta đều biết mùa thu là mùa lá rụng, là lúc gió thu xào xạc, thời điểm này cả đất trời chỉ có một sắc khí xơ xác, cho nên nói người có khí của kim quá mạnh thì sát khí cũng rất nặng, cổ nhân gọi là sát khí, dịch qua từ hiện đại là người này đặc biệt thích chọc vào chỗ đau của người khác. Dùng cách nói hiện đại là: “không giúp mà còn bỏ cát vào mắt”. Người có tính cách kiểu này, rất dễ bị bệnh thuộc phương diện hành kim, bị bệnh ở kinh phế. Mọi người đều biết kim thì khắc mộc, giả dụ như người này điều khiển ham muốn, thích bới móc người khác, nếu tập khí này quá nặng, thì thường tổn thương đến can, hơn nữa còn tổn thương rất nặng nề.

Vào tháng 6 năm nay tôi có điều trị cho một bệnh nhân, là một bệnh nhân ở tỉnh Hà Bắc, khi anh đến tìm tôi khám bệnh, anh nói: “Bác sĩ Bành, tôi bị xơ gan thời kỳ đầu”. Chứng xơ gan mọi người đều biết, khi xơ gan phát triển nặng là gây cổ trướng, cổ trướng nặng thêm nữa thì có thể tử vong. Con đường thứ 2 của xơ gan là ung thư gan, thời gian sống còn cũng không quá 10 năm. Anh ta nói:

– “Tôi cảm thấy đời sống của bản thân mình không còn hy vọng nữa, cũng không biết mình sai lầm ở chỗ nào?”.

Tôi nói: – “Bệnh này dùng đông y là có thể trị khỏi. Nhưng điều quan trọng nhất là bản thân anh trước tiên phải đứng dậy”.

Cho nên, thầy thuốc nhiều khi phải giúp bệnh nhân khôi phục lòng tin. Tôi nói: “Bệnh này của anh có thể tự mình trị khỏi, đồng thời tôi sẽ kê đơn thuốc giúp anh, và từ từ anh sẽ khỏi thôi”.

Anh nói: – “Thật vậy không?”.

Tôi nói: – “Việc này là hoàn toàn có thể. Vì dưới cái nhìn của đông y thì chỉ cần tinh khí. Sau khi tinh khí vượt quá mức giảm xuống, thì mạch của can sẽ thông suốt, chứng xơ gan của anh sẽ khỏi. Anh là lãnh đạo của công ty, mà trên gương mặt của anh không hề có nụ cười, không hề có một nụ cười”

Vì chúng tôi vọng văn, vấn, thiết đã lâu rồi nên có kinh nghiệm. Bệnh nhân đến như thế nào thì đại thể đã biết rồi, thông qua ngũ hành vọng chẩn thì biết thôi, không hề có một nụ cười, hơn nữa trong nội tâm lại quá bó buộc, là bị bó buộc.

Anh ta nói: “Đúng như vậy, công nhân của tôi đều nói với tôi là họ rất sợ tôi. Bản thân tôi cảm thấy rằng: mỗi ngày tôi đều dường như bị buộc chặt”.

Tôi nói: – “Vậy chẳng phải anh tự chuốc họa vào thân đó sao? Đây gọi là vận động tạo ra bệnh, tự mình tạo ra bệnh, tâm thái này của anh kéo dài thì sẽ tạo ra bệnh, anh thấy anh đã tạo thành công bệnh rồi đó, tạo ra được xơ gan rồi. Nếu như anh tiếp tục chế tạo tiếp nữa, thì bệnh này sẽ phát triển thành bệnh hiểm nghèo, và sẽ cướp đi mạng sống của anh, vậy là trong ngoài đều mất, không tốt cho bản thân còn khiến người khác thêm khó chịu”.
Anh nói: “thế có biện pháp gì không?”

Thực tế rất đơn giản, tức là người khí của kim quá nặng thì phải luyện tập điều gì? Tức là luyện tập khoan dung và mỉm cười. Tôi liền nói với anh ta:
– “Bắt đầu từ hôm nay anh bắt đầu luyện một nội dung là được rồi, là mỗi ngày phải mỉm cười. Vì con người chỉ cần cười lên, thì khí căng thẳng của toàn thân liền buông lỏng, các tạng khí được giãn ra, khi tạng khí được giãn ra thì bệnh liền khỏi ngay”

Sau khi tôi nói đạo lý này cho anh ta và kê cho anh bài thuốc Tứ Nghịch Tán, để cho can khí được giãn thêm, anh đi về.

Khoảng 2 tuần sau, vì bệnh nhân này là thuộc bệnh nhân tương đối nặng, nên tôi điện thoại cho anh ấy, tôi hỏi anh: “Hiẹân nay thế nào rồi, anh đã uống thuốc chưa?”

Anh nói: “Bác sĩ Bành, nói thật với bác tôi chưa uống thuốc, hiện nay tôi nghe lời bác, mỗi ngày tôi tập mỉm cười để cư xử với người xung quanh, tôi phát hiện những cảm giác có trước đây giờ đã không còn nữa, tức là cảm giác đau ở vùng gan giờ đã hết rồi, hơn nữa đi xét nghiệm chức năng gan ở bệnh viện, thì các chỉ số đều phát triển theo chiều hướng tốt”.

Sau đó anh gởi cho tôi một đoạn thư ngắn, anh nói: “Bác sĩ Bành hôm trước bác chỉ tôi mỉm cười đó, nó cứ lãng vãng trước mắt tôi, mỗi khi gương mặt tôi căng thẳng, uất ức trong lòng thì liền nghĩ đến điều này, mỗi ngày luyện tập. Và lúc đó tôi còn nêu cho anh một bệnh án, người này cũng bị, đó là giám đốc Lý công ty Phi Nê Khắc Tư, trên thực tế, khi người giận dữ, chính là tự treo mình lên xà nhà để đánh, người này mỗi ngày họ tự đánh mình, khi tôi nói với anh ta về bệnh án này, thì không khí căng thẳng của anh lúc đó bỗng hòa dịu xuống liền, tại sao vậy? Một khi ta thấy lại chính mình, thì lúc đó trí tuệ liền mở ra, và rất nhiều vấn đề lần lượt được giải quyết”.

Anh nói tiếp: “Lúc đó, sau khi tôi nêu ra bệnh án này cho anh, thì mỗi tối anh đều nghĩ, nghĩ đi nghĩ lại và tự mỉm cười, anh cảm thấy mỗi ngày anh đều tự đánh đập chính mình, việc gì phải thế! Hơn nữa thường là tự đánh đập chính mình, hoàn toàn không phải người khác đánh đập mình. Sau khi anh ta nghĩ vấn đề này thông rồi, thì khí huyết liền thông, sau đó cơ thể liền khỏe mạnh, đây là bệnh án thứ 2, đây là người khí của kim quá thịnh, khí của kim phát triển thêm nữa, thì đó là bầu không khí buồn thảm, cho nên trong thất tình của đông y nói rằng: “Buồn thì tổn thương phế, nếu một người quá buồn rầu thì sẽ tổn thương phế khí”. Năm ngoái tôi có điều trị cho một bệnh nhân bị bệnh hiểm nghèo, người này khi đến tìm tôi khám bệnh, là bị ung thư phổi thời kỳ cuối, tại sao cô bị như vậy? Theo cách nói của tôi, đó cũng là tạo ra bệnh thành công. Người này nửa năm trước khi tìm đến tôi khám bệnh, thì con gái của cô 25 tuổi bị tai nạn xe mà chết. Kể từ đó ngày nào cô cũng khóc, cô sống gần bờ biển, bên biển có núi, mỗi ngày cô đều leo lên núi, leo lên đỉnh núi, đứng bên vách đá muốn nhảy xuống tự tử, mỗi ngày đều như thế, đến nỗi chồng cô ngày nào cũng phải đi theo giữ cô, trong hoàn cảnh tâm thái như vậy, cuối cùng đã tạo ra bệnh, đây chính là ung thư phổi, khi bệnh nhân này đến tìm tôi khám bệnh, bác sĩ nói với cô, cô chỉ còn sống khoảng 3 tháng nữa, người nhà cô nói rằng cô còn một số chuyện chưa làm xong, hy vọng tôi có thể dùng y thuật giúp cô ta kéo dài thời gian sống, lúc đó tôi cũng nói với cô như vậy, có kéo dài thời gian được hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào cô, tôi đem đạo lý này nói rõ, tức là buồn thì tổn thương phế, vậy làm sao có thể điều trị buồn rầu đây?

Con người thường hay bị sa vào trong tiểu ngã, tức là tiểu của đại tiểu, ngã của tự ngã. Sa vào trong tiểu ngã thì ta dễ bị buồn rầu, rất dễ buồn rầu mà không sao thoát ra được. Con người một khi đi vào đại ngã, thì họ sẽ không buồn rầu mà chuyển thành từ bi. Từ bi có nghĩa là gì? Tức là quan tâm tất cả mọi người một cách vô điều kiện. Tôi bèn gợi ý cho cô, tôi nói”

– “Con của cô đã không còn nữa, cô thử nghĩ xem vai trò cô trong gia đình, không chỉ là một vai trò mà còn rất nhiều vai trò khác, thứ nhất cô là con của cha mẹ cô, cha mẹ của cô đều còn khỏe tuy cô đã 50 tuổi. Thứ 2 cô còn là người vợ của chồng mình, thứ 3 trong xã hội cô còn là nhân viên của công ty. Ngoài ra cô còn là người mẹ, hiện tại cô chỉ rơi vào trong cái vòng nhỏ là làm mẹ này, cô hoàn toàn không thoát ra được cái vòng này, khi cô thử nghĩ mình còn những nghĩa vụ khác, thì cô sẽ nhanh chóng thoát ra khỏi chỗ này thôi. Cô nói đúng vậy! Chồng của cô cũng rất ủng hộ cô, gia đình cô đã nhận nuôi một bé mồ côi, là một bé sơ sinh bị bỏ rơi, một bé gái nhỏ, giúp cô mở rộng tấm lòng, người bệnh từ khi nhận nuôi bé gái nhỏ này, tâm trạng mỗi ngày cũng chuyển tốt hơn, nhưng cuối cùng cũng chỉ kéo dài sự sống thêm được 5 tháng, vốn dĩ dự đoán khoảng 3 tháng thì qua đời, nhưng kéo dài đến 8 tháng sau, mãi đến lần trước tôi đi Sơn Đông, là gặp được cô lần cuối, và cuối cùng cô cũng qua đời. Đây cũng là một gợi ý rất hay, tức là thông qua việc nhận nuôi bé gái, đã mở rộng tình thương của mình, đồng thời ý thức được bản thân mình còn có những trách nhiệm khác, cũng không đến nỗi sa vào vòng tiểu ngã. Lòng mình vừa mở ra thì khí cũng theo đó mà thay đổi, một khi khí thay đổi, thì bệnh tật ngoại hình cơ thể cũng sẽ được thư thả. Cuối cùng bệnh nhân này do 2 lần dùng hóa trị, khiến niêm mạc bị tổn thương rất nghiêm trọng, ăn cơm như lời của cô ta nói là giống như nhai sáp, là ăn bất kỳ món gì cũng giống như ăn xác cây vậy. Đường tiêu hóa tổn thương rất nghiêm trọng, sau đó khi tôi gặp lại cô lần cuối cùng, thì người chỉ còn da bọc xương. Dưới cái nhìn của đông y, tức là tỳ vị khí rất yếu, điều này trên thực tế là tổn thương đến tỳ vị, cuối cùng cô chỉ sống kéo dài thêm được 5 tháng. Nhưng chúng ta cũng tổng kết được một điểm từ trong bệnh án này, là sự buồn rầu của chúng ta, thực tế tất cả những tâm trạng này, chung quy tóm lại cuối cùng vẫn là tiểu ngã, tức là vượt không qua được chữ “ngã”, một khi bạn vượt qua được, thì bạn sẽ phát hiện thân thể này cũng nhanh chóng theo đó mà thay đổi, đây là phương diện thứ 2.

III. LỄ

Lễ, tương ứng với hỏa, ứng vào ngũ tạng là tạng tâm, ứng vào 4 mùa là mùa hạ, chữ lễ ứng với hỏa này, trong Thượng Thư nói rằng: “Hỏa viết viêm thượng”. Nghĩa là, tích cực hướng thượng, là sáng tỏ, đại biểu cho sự tiến bộ.

Chúng ta đều biết trên thế giới, một tiêu chuẩn rất quan trọng để đánh giá một quốc gia có tiến bộ hay không, là xem người dân của quốc gia này có lễ phép hay không. Lễ phép ứng với trật tự. Cũng chỉ luôn cho quan hệ ngũ luân. Hoàng Đế Nội Kinh ghi: “Tâm giả, quân chủ chi quan, chủ minh tắc hạ an, chủ bất minh tắc thập nhị quan nguy”. Là nói cái tâm này, trong cơ thể nó có tác dụng chủ đạo, là chủ thần minh. Tâm vốn dĩ ở trạng thái rấât rộng mở và hướng thượng, đây là trạng thái tự nhiên của nó. Nếu không là trạng thái tự nhiên thì bệnh thái của nó sẽ ra sao? Đó là thù hận. Thù hận sẽ làm tổn thương tạng khí nào vậy? Sẽ tổn thương tạng tâm.

Vì sao nói như vậy? Vì thù hận, bình thường tâm thù hận đều từ bên trong tâm phát ra ngoài, vả lại khí này của nó lại tụ vào bên trong, đặc biệt dễ gây ra một số các loại bệnh như; bệnh mạch vành, hồi hộp, đánh trống ngực. Trên lâm sàng tôi gặp một bệnh nhân, người này bị người khác lừa 200 ngàn, sau khi bị lừa 200 ngàn, thì anh ta ngày đêm suy nghĩ và rất thù hận người gạt mình. Thế là anh đã tự tạo cho mình một loại bệnh, đó chính là nhịp tim không đều, khi anh đến tìm tôi khám bệnh, anh đã nói ra nguyên nhân gây bệnh này.

Tôi nói với anh, bên trong cơ thể của anh nhất định có rất nhiều điểm đau. Chúng ta đều biết kinh lạc không thông, nội tạng không thông thì kinh lạc bên ngoài sẽ có áp thống điểm. Trên kinh thủ quyết âm tâm bào của anh ta, khi quí vị duổi thẳng tay ra đường kinh phía bên trong ở vùng này chính là kinh thủ quyết âm tâm bào, những vùng này sẽ có rất nhiều điểm đau, chỉ cần day mở những điểm đau này, thì nhịp tim không đều sẽ khỏi rất nhanh, và ngay tức thời, là trong ngày đó liền trị khỏi căn bệnh này. Cho nên, đông y hoàn toàn không chậm,. Ngay tức khắc có thể có hiệu quả.

Sau khi tôi day mở kinh lạc cho anh xong, thì ngày thứ 2 anh ngủ rất ngon, cũng không có hồi hộp. Sau đó, khi khám lại tôi bèn nói với anh, vấn đề căn bản nhất không phải là kinh lạc có thông hay không, khí huyết có hòa hay không, ngũ tạng có cân bằng hay không, điểm quan trọng nhất không phải những điều đó, mà quan trọng là nguyên nhân bệnh của anh. Anh nên buông bỏ đừng nhớ số tiền 200 ngàn này, coi như anh đã trả xong món nợ. Không, thì coi như anh không chỉ bị người ta lừa 200 ngàn, mà còn bị người ta lừa cả sức khỏe, đúng không? Anh đã tự tạo ra bệnh cho mình. Vậy là lợi bất cập hại. Nếu anh chịu điều chỉnh trở lại tâm thái này, thì sẽ không bị bệnh này. Đó là do xóa bỏ được cái gốc. Cho nên khi tôi có kiến nghị để điều chỉnh bệnh cho anh, anh cũng rất hợp tác. Tôi cũng chỉ cho anh tự mình day ấn những huyệt này, rồi ăn rau và thực dưỡng.

Đông y, nhắc đến đông y quí vị không chỉ liên tưởng đến thuốc nam, thuốc bắc, trên thực tế rất nhiều bệnh không dùng thuốc nam thuốc bắc cũng có thể trị khỏi, như bệnh rối loạn tuần hoàn não, thì thường nên ăn rau muống, rau cần, những loại rau này có tính sơ thông, nên có thể sơ thông kinh lạc bị bế tắc rất tốt. Lúc đó, anh ta cũng dùng phương pháp này, thông qua việc ăn rau và day ấn kinh lạc. Sau đó một tháng bệnh nhịp tim thất thường của anh khỏi hẳn, và anh cũng nói rằng, tôi từ nay về sau không để trong lòng nữa, cũng không nghĩ đến chuyện này nữa.

Đó là Lễ, đi kèm với lễ chính là “nhạc”, lễ và nhạc hai cái này hợp lại với nhau, chính là hôm qua thầy Cận Nhã Giai đã chia xẻ với quí vị. “Di phong dị tục, mạc thiện ư nhạc”, nhạc thời cổ đại còn có một cách đọc là Lạc, chữ lạc trong hỷ lạc, tức là vui vẻ, nếu như tâm của một người ở vào trạng thái vui vẻ, thì mạch khí của họ sẽ rất dễ thông suốt, cho nên chúng ta quan sát trẻ con, trẻ con suốt ngày chúng đều rất vui vẻ, đã từng có thống kê, nhà y học đã làm một thống kê, trẻ con trước 3 tuổi, bình quân mỗi ngày cười 170 lần, bình quân cười 170 lần, tâm mạch hoàn toàn thông suốt, không có bệnh tật, cổ nhân gọi đó là khí thuần dương, chúng sẽ không có bệnh. Người trưởng thành bình quân mỗi ngày cười 7 lần, người Trung Quốc chúng ta so với toàn thế giới mà nói, là ít cười nhất, cả ngày vẻ mặt như khúc gỗ, rất ít thấy vẻ mặt tươi cười, tại sao vậy? Vì chúng ta dường như quá nghiêm ngặt về mặt này. Trên thực tế là không đúng. Nội tâm của bạn, sau khi vui vẻ thì cơ thể sẽ thông suốt, và ngược lại khi cơ thể khỏe thì tâm thái cũng tốt, cho nên nói điều chỉnh tâm thái tốt, thì bệnh của tạng tâm sẽ được thư thả, đây là phương diện thứ 3 là phương diện Lễ.

IV. TRÍ

Trí, trong nhân, lễ, nghĩa, trí, tín là muốn nói người này rất có trí tuệ. Trí tuệ tương ứng với ngũ hành là thủy, ứng vào 4 mùa là đông, là mùa đông, trí tuệ có từ đâu vậy? Một người muốn có trí tuệ, điều thứ nhất là phải khiêm tốn, tức là có thể tiếp nhận ý kiến của người khác, có thể tiếp nhận ý kiến của người khác tức là “Kiêm thính tắc minh” là lắng nghe, cho nên nói “Thận khai khiếu ở tai” là có đạo lý. Nếu một người thận khí đầy đủ, thì tai của họ sẽ dễ dàng nghe được sự khuyên bảo của người khác, người thận khí đầy đủ thì có trí tuệ, đúng vậy. Người có thể nghe lời khuyên bảo của người khác, tức lỗ tai thông rồi, thì thận khí sẽ đủ. Thận khí đủ rồi thì họ tự nhiên có trí tuệ, cho nên cổ nhân Trung Quốc đã tổng kết những đạo lý này, là hoàn toàn liên kết với nhau trong đời sống sinh hoạt của chúng ta.

Ở đây tôi xin nhấn mạnh với quí vị một chút, lần trước ở Thanh Đảo tôi đã từng nói qua đề tài này, đó chính là đề tài tổn thương tinh này, tại sao phải nhấn mạnh vậy? Vì hiện nay vấn đề này rất nghiêm trọng, chính là tổn thương thận, tổn thương thế nào vậy? Tức là phòng sự quá độ khiến thận khí bị tổn thương.

Chúng ta đều biết thận chủ cốt tủy, não là bể chứa tủy, thận chủ cốt, xương cốt khỏe mạnh là một dạng biểu hiện của thận khí đầy đủ. Điều thứ 2, thận còn chủ cốt tủy, chúng ta đều biết người thận khí đầy đủ, thì toàn bộ cốt tủy đều sung mãn, cốt tủy, tủy trong xương sống này nó liên thông lên với não, nên người này sẽ thông minh họ sẽ có trí tuệ. Ngược lại nếu như người này thường xuyên tiết ra thận khí, thì cốt tủy của họ sẽ khô héo, cốt tủy khô héo thì tinh hoa trong não sẽ rót tưới vào cốt tủy, thì não sẽ không sáng suốt, dẫn đến tình trạng cơ thể suy tàn. Cho nên thận khí không đủ đây là vấn đề căn bản nhất, tức là phần dư tinh hoa của ngũ tạng lục phủ đều cất chứa vào trong thận này. Thận cũng giống như tổng ngân hàng năng lượng của cơ thể vậy, nó thu nạp tất cả năng lượng của cơ thể vào để cất giữ, để dành khi có nhu cầu, khi có bệnh thì điều động năng lượng này ra dùng.

Nếu như thường xuyên tiết thận khí, thì người này sẽ xuất hiện các biểu hiện như sau :
1. Cốt tủy khô héo : Biểu hiện trực tiếp nhất của cốt tủy khô héo là dễ bị gãy xương, ở Thanh Đảo tôi đã chia xẻ với quí vị rồi, tôi đã từng có một anh bạn học một năm bị gãy xương 4 lần, thực tế là do háo sắc, Sắc dục quá độ dẫn đến dễ bị gãy xương.

2. Trí óc rất kém, sức ghi nhớ giảm sút, mất đi năng lực làm việc, học tập, giao tiếp nhân tế, trở thành một người tàn phế. Điều này trong buổi nói chuyện lần trước tôi cũng đã chia xẻ với quí vị rồi. Trên thực tế nếu chúng ta đứng ở góc nhìn khác, thì ‘tinh’ trên thực tế chính là cốt tủy. Nếu như cốt tủy của người này không đầy đủ, thì trí óc, trí lực, thể lực, sức đề kháng sẽ bị giảm sút, cho nên dùng một ví dụ đơn giản nhất là tinh tủy, thận tinh và cốt tủy của con người giống như hệ thống phòng ngự của cơ thể chúng ta, là đại quân phòng ngự hậu cần cấp dưỡng. Nếu như rút hết toàn bộ số lương thực cấp dưỡng này, thì đại quân phòng ngự sẽ bị sụp đỗ toàn bộ, nên dẫn đến trăm thứ bệnh dồn vào, gây ra những loại bệnh như; tiểu đường, tai biến, viêm cổ tử cung, ung thư tử cung, đủ thứ loại bệnh tật cùng xuất hiện, trên thực tế đều quan hệ rất mật thiết với thận khí. Đây là cách thức tổn thương thận trực tiếp nhất.

Vậy về mặt tâm thái, thận khí có quan hệ thế nào? Chúng ta đều biết, một người khi thận khí thật sự đầy đủ, thì biểu hiện bên ngoài của họ rất khiêm nhường, và cũng rất dễ dàng tiếp nhận ý kiến của người khác, ngược lại thận khí không đủ thì sao? Thì người này sẽ bồn chồn, không yên, sẽ tự mình cảm thấy bị áp lực rất nặng. Trước đây tôi có điều trị một bệnh nhân. Bệnh nhân này chính là điển hình của một người vì sợ mà tổn thương thận. Sợ hãi sẽ làm tổn thương thận khí. Sợ hãi, nói theo kiểu hiện đại là ”cảm giác không an toàn”. Năm 2002 khi tôi khám bệnh cho anh ta, anh đến tìm tôi khám bệnh là do mất ngủ, mất ngủ triền miên, không cách nào trị khỏi, tôi đã cho anh ta dùng các bài thuốc đông y như Toan Táo Nhân thang, Giao Đằng hoàn, cơ bản là để thử xem sao, nhưng chẳng có tác dụng. Bệnh nhân năm 2002 này tôi chữa cho anh không khỏi, lúc đó tôi cũng vừa mới ra trường. Đến năm 2008 tôi gặp lại anh ta, anh kể chuyện cho tôi nghe. Anh nói : “Bác sĩ Bành, bác biết không? Bệnh của tôi khỏi rồi”.

Tôi hỏi anh: “Bệnh của anh chữa thế nào mà khỏi vậy?”

Anh nói: “Tôi bị ngồi tù 3 năm, sau khi vào tù đến tuần thứ 2 thì khỏi bệnh”.

Tôi hỏi: “Tại sao như vậy?”.

Anh nói: “Thực tế lúc đó tôi đã nói điều này với bác rồi”

Vì anh ta là người lãnh đạo cấp sở, là lãnh đạo cấp sở của địa phương chúng ta đây.

Anh nói: “Lúc đó tôi nói với bác là cả ngày tôi bị những áp lực buồn phiền đè nén. Thực tế là do tắc trách, vấn đề quan trọng nhất của tôi là phải có kinh tế, rất sợ hãi, nớm nớp lo sợ”.

Chúng ta đều biết áp lực nặng có rất nhiều dạng:

Dạng thứ nhất là không hoàn thành công việc. Số lượng công việc quá nhiều không thể hoàn thành. Đây là dạng áp lực nặng.

Dạng thứ 2 là sự kỳ vọng của người khác về bạn quá cao. Sau đó bạn lại quá sợ không thể hoàn thành nhiệm vụ. Như hiện nay học sinh thi vào đại học, trước khi thi đại học đây đều là áp lực.

Áp lực nặng thứ 3 là gì ? Là sau khi tự bản thân mình đã làm chuyện xấu. Sợ bị người khác phát hiện rồi mang ra công bố trước mọi người. Đây là phương diện thứ 3 của áp lực nặng.

Áp lực nặng mà anh đã nói với tôi lúc đó chính là phương diện thứ 3 này. Sau khi tham ô một số tiền lớn thì suốt ngày nơm nớp lo âu. Đương nhiên là mất ngủ, dùng thuốc gì cũng không thể trị khỏi. Kết quả sau khi bị bắt vào tù, đến tuần thứ 2 thì ngủ rất ngon. Tại sao vậy? Vì con người chỉ cần tâm thái tốt lên rồi thì cơ thể sẽ tự động hồi phục, hoàn toàn không cần điều chỉnh.

Chúng ta đều biết trẻ con sau khi chúng đã làm một việc có lỗi, thì chúng không nói với người lớn, bạn sẽ thấy đứa bé này có vẻ ấp úng không tự nhiên làm sao ấy, bạn liền gọi nó lại hỏi, hôm nay con đã làm gì có lỗi rồi phải không? Nó sẽ nói úp úp mở mở là hôm nay con đã làm bể một cái ly. Sau đó bé không nói với ba, đợi sau khi bé nói chuyện này ra xong rồi, thì bạn mới tiến hành dạy bé. Sau khi bé bước ra khỏi ngưỡng cửa đó thì sẽ nó bắt đầu hồi phục lại trạng thái bình thường, tức là trạng thái vui sướng nhảy nhót, không còn áp lực nữa. Trẻ con còn như thế thì huống gì người lớn.

Thực tế, nội tâm chúng ta một khi có chuyện khúc mắc, có chuyện xấu hổ thì bạn sẽ vô cùng khổ sở, đặc biệt như chuyện phạm tội này. Điều đó sẽ làm tổn thương cơ thể rất nặng. Bệnh nhân này thực tế là như vậy. Tự mình trị khỏi bệnh cho mình.

Anh nói: “Sau khi tôi bị bắt vào tù thì trong lòng tôi bỗng nhiên được phóng thích hoàn toàn, vì đã phán xử 3 năm tù. Tất cả những chuyện lo lắng trước đây của mình đều xảy ra rồi, sau khi xảy ra nó đã thành sự thực, cái khí này sẽ lắng xuống, khí lắng xuống thì thận khí đầy đủ. Tự nhiên thủy hỏa sẽ giao tế nên ngủ được, chỉ đơn giản vậy thôi. Hoàn toàn không dùng những thuốc như : Giao Đằng hoàn, Thủy Hỏa Ký Tế, Toan Táo Nhân Thang, Bổ Tâm Âm, Thiên Ma Câu Đằng Ẩm để bổ thêm can khí. Không cần phải là như thế mà là sau khi tâm của bạn chánh rồi thì khí sẽ chánh. Khí chánh rồi thì bệnh liền khỏi. Đơn giản vậy thôi. Đây là phương diện thứ 4.

V.TÍN

Tín, tín tức là thành tín. Trong ngũ hành tín thuộc hành thổ. Ứng vào trong 4 mùa là trưởng hạ, cũng chính là khoảng thời gian giữa mùa hạ và mùa thu. Trạng thái trong thời gian này chính là lúc vạn vật đang kỳ thai nghén. Chúng ta đều biết vạn vật thai nghén, tất cả sự phát triển đi lên hoặc đi xuống của mọi vật là phải dựa vào cái gì? Đều là dựa vào sự thành tín của con người, chúng ta làm sự nghiệp cũng tốt, làm người cũng tốt. “Nhân vô tín bất lập”.

Nếu con người không có niềm tin họ sẽ không thể đứng lên được. Trạng thái của cơ thể cũng vậy, nếu như một người họ rất thành tín, rất trung thực, thì sau đó sức hành động của họ rất mạnh. Người trong lòng không so đo tính toán thì tiêu hóa của họ rất tốt. Ngược lại, người thường hay so đo tính toán thì tiêu hóa họ không tốt. Tôi xin lấy bản thân mình làm ví dụ. Trước đây đường tiêu hóa của tôi không được tốt, hơn nữa đây cũng là phiền não tập khí rất quan trọng của tôi, chưa được chỉnh sửa. Cho đến khi học văn hóa truyền thống, đến năm thứ 3 vẫn chưa sửa, cũng như trước đây, tôi năm ấy là năm cuối học tiến sĩ, thầy hướng dẫn sắp xếp lượng công việc cho tôi quá nhiều, các sư huynh sư tỷ của tôi (đều chưa qua chuyên sâu nghiệp vụ) đến làm đề tài. Tôi đã chuyên sâu nghiệp vụ vẫn phải làm đề tài vi sinh vật. Ngoài ra còn phải đi các bệnh viện khác, đi làm những việc cấy tế bào, cấy vi sinh vật, lại còn phải mua đủ các thứ dụng cụ để nuôi cấy … Tôi làm những việc từ dân công cho đến kỹ sư, tất cả việc lớn cho đến việc nhỏ. Lúc đó, trong lòng của tôi oán khí rất nặng. Tôi thầm nói tại sao thầy hướng dẫn lại sắp xếp cho sư đệ, sư muội, su huynh, sư tỷ khác khỏe như thế, còn lượng công việc của tôi tại sao lại nhiều như vậy. Đúng là một bụng oán hận, kết quả năm đó, tôi năm đó cơ thể rất ốm yếu, không phải như trạng thái của tôi hiện nay, cơ thể vàng vọt ốm yếu, không hề có chút thể lực. Đây chính là oán khí tổn thương thân.

Đến sau này, 4 tháng trước khi bảo vệ luận văn tiến sĩ, tôi có tiếp xúc với một thầy và thầy ấy liền nói với tôi. Thầy chỉ vào tôi và nói oán, hận, buồn, giận, phiền, cái oán này nó trực tiếp tổn thương tỳ vị, trạng thái của anh hiện nay chính là oán khí quá nặng. Tôi quay lại cẩn thận kiểm điểm mình. Sau khi kiểm điểm lại mình tôi thấy quả thật là đúng như vậy. Thực tế không nên oán thầy hướng dẫn. Thầy hướng dẫn rất quan tâm thương yêu bạn, tại sao vậy? Vì có áp lực công việc như vậy, bạn mới có thể rèn luyện mình, sau khi hoàn thành tất cả những nhiệm vụ này thì tri thức của bạn tăng lên rất nhiều. Việc bảo vệ luận văn của tôi cuối cùng được tất cả các chuyên gia thông qua, hơn nữa đạt hạng ưu tú. Đó là nhờ yêu cầu nghiêm khắc của thầy hướng dẫn đối với tôi, mới được kết quả như vậy. Năm đó tôi ý thức được điểm này, nên bèn hạ quyết tâm, và thầm nói tôi sẽ không bao giờ oán trách thầy nữa. Thực tế thầy rất quan tâm thương yêu tôi, và tôi bắt đầu có sức trở lại. Một người chỉ cần oán trách thì sẽ không có sức hành động, sẽ không muốn làm việc.

Sau khi nghĩ thấu đáo xong vấn đề này, thì tôi rất muốn làm việc. Sau đó làm xong công việc và tỳ vị cũng khỏe hẳn. Những biểu hiện của đường tiêu hóa như; tiêu chảy, tiêu lỏng và đầy hơi ở bụng cũng không còn nữa. Đây là sự thể hội của tự bản thân tôi. Tôi đang điều trị cho một bệnh nhân bị chứng uất ức, thực tế anh ta cũng bị như vậy.

Người tỳ vị không tốt, một biểu hiện rất quan trọng đó là làm bất cứ việc gì cũng nghĩ tới nghĩ lui, tính toán, việc này làm thế này có tốt hay không, làm thế kia có tốt hay không, xảy ra chuyện này thì phải làm thế nào? Họ là như vậy, không hạ quyết tâm, hay do dự không dứt khoát. Thành phần trí thức thường hay như vậy. Tôi chính là thành phần trí thức. Lúc đó tôi liền nghĩ đến một câu đó là: “Tú tài tạo phản, ba năm không thành,” Vì sao? Vì suốt ngày cứ nghĩ tới nghĩ lui, không thể làm xong việc, đúng không? Thực tế đây chính là nội tâm của chúng ta. Lúc nào cũng phập phồng không yên, lộn xộn lung tung, thật là rối rắm. Bệnh nhân bị chứng uất ức mà tôi đang điều trị đúng là có biểu hiện như vậy. Mỗi ngày cứ trách hết điều này đến điều khác. Từ khi bị thua cổ phiếu thì tâm trạng bị rơi đến cực điểm. Vào giữa tháng 4 năm nay, đã từng tự sát hụt một lần, đây đều là biểu hiện của bệnh nhân bị chứng uất ức.

Biểu hiện thứ 2 là mất ngủ, khi ngủ rất khó ngủ được. Trị bệnh nhân như vậy phải trị thế nào? Thực tế rất đơn giản, làm giảm bớt phiền não của họ. Cách làm giảm bớt phiền não là bảo họ làm việc, để họ có sức hành động. Bảo họ làm việc gì ? Làm công việc gì mệt thì bảo họ làm. Làm những việc thô nặng, gắng sức, đổ mồ hôi, lao động như vậy, thì tính nết của họ không còn, và họ cũng không còn nghĩ ngợi nữa.

Đối với bệnh nhân này tôi nói: “Anh một ngày có thể đi bộ được bao nhiêu thì cứ đi bấy nhiêu, cho đến khi nào mình đi không nổi nữa thì thôi, đồng thời gánh nước giúp cho người xung quanh xóm, hằng ngày cứ làm việc này thì ổn thôi”.

Anh ta bắt đầu làm, khi mới bắt đầu mỗi ngày anh đi bộ 2 km, đi từ xung quanh khu phố nhỏ của chúng tôi đến một nơi tương đối xa khác rồi đi trở lại. Anh nói đi 2 cây số thấy người rất mệt. Tôi nói khi nào anh có thể đi được 20 cây số, thì bệnh của anh sẽ khỏe. Anh bắt đầu kiên trì, đi mỗi ngày, đi mỗi ngày, cho đến sau này anh đi mãi, thì tất cả những phiền não không còn nữa. Vì con người chỉ cần khí huyết lưu thông, tứ chi hoạt động. Vì tỳ chủ tứ chi. Khi tứ chi hoạt động thì tỳ vị sẽ khỏe mạnh. Tỳ vị khỏe mạnh thì dạ dày sẽ khỏi bệnh. Ăn sẽ ngon miệng, và ngủ rất ngon, là có thể ăn ngủ tốt, thì họ sẽ khỏi bệnh thôi. Cuối cùng anh ấy hoàn toàn hồi phục.

Điều này khiến tôi nghĩ đến một đặc điểm, chính là một kết quả : Tín trong nhân lễ nghĩa trí tín là tín ở mức độ nào? Đó là chỉ sự thành tín của bạn. Thành tín là sao? Là nói được thì làm được. Chính là sức hành động, rất nhiều người trong chúng ta khi làm việc thường nghĩ tới nghĩ lui. Suy nghĩ về sự việc quá nhiều, rốt cuộc công việc thì không làm, mà còn khiến cho sức khỏe của mình bị giảm sút. Bản thân tôi là một điển hình. Lúc đó luận văn chưa viết xong, thí nghiệm cũng chưa làm, sức khỏe lại bị tỳ hư. Nếu không có thầy kia chỉ dẫn, thì tôi cũng không khỏe được, bệnh nhân này cũng vậy. Cho nên, tất cả các loại bệnh tật của con người, đều có quan hệ mật thiết với nội tâm của họ.

Trong khi chúng ta điều trị bệnh, nếu chỉ chủ yếu thông qua dùng thuốc là rất phí sức, khi bạn khai thông được sự uất kết trong tâm của họ, đồng thời phối hợp với dùng thuốc và châm cứu, như vậy dù bỏ ít công sức mà hiệu quả rất lớn. Đây chính là sự ảnh hưởng của nhân, lễ, nghĩa, trí, tín đối với nội tạng mà tôi đã nói.

ĐỆ TỬ QUY

Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín thực tế chính là sự rút ngắn của “Đệ Tử Quy”.

Đệ Tử Quy, khi giảng ra chính là nhân nghĩa lễ trí tín. Ngược lại Đệ tử Quy cũng là phương cách sống của chúng ta. Hiện nay, phương Tây đi theo phương cách sống bệnh tật. Phương cách sống không đúng sẽ dẫn đến bệnh tật. Ngược lại chúng ta áp dụng theo lời giáo huấn của cổ thánh tiên hiền để quản thúc phương cách sống của chúng ta, thì sẽ tránh được rất nhiều bệnh tật, thậm chí có thể chữa khỏi rất nhiều loại bệnh. Cách chữa trị này vừa không tốn tiền, và cũng không dùng thuốc vẫn có thể đạt hiệu quả rất tốt. Cổ nhân có câu: “Người khéo hiểu đạo trời, ắt có lợi ích cho bản thân”. Đó là ý gì? Là nói đến trời đất, là chỉ quy luật tự nhiên của trời đất. Đạo lý này, đạo lý là ứng vào trong cơ thể chúng ta.

Đệ tử Quy đem lại cho chúng ta điều lợi ích gì? Nó khiến chúng ta phục hồi 5 trạng thái tâm lý của mình được bình thường. Sau khi phục hồi thì trạng thái sinh lý cũng trở lại bình thường, và cũng đạt được sức khỏe. Cho nên sự chia xẻ của tôi hôm nay, xin báo cáo với quí vị đến đây, cảm ơn quí vị.

 

Advertisements
Đạo

Tìm về mình

Từ khi 12 tuổi mình đã say mê các làn điệu dân ca và nhạc cổ truyền Bắc, Trung, Nam. Nhưng gia đình lo say mê cổ nhạc nên ba mẹ vội gửi đi học “tân nhạc” ở nhạc viện để cho mình “mất tập trung”. Mình vẫn nhớ, đã sưu tầm tích cóp, thâu âm.. từng cuốn băng cassette, video.. và tập tành ca theo các làn điệu cổ như thế nào. Vì biết ba mẹ không ủng hộ nên chỉ nghe lúc đi ngủ, và tập ca theo khi không có ai bên cạnh. Suốt rất nhiều năm, những làn điệu cổ đã đi vào giấc ngủ của mình một cách âm thầm như thế. Đi học, có những câu chuyện cổ tích hay mình cũng tập viết tuồng và đặt lời theo các làn điệu.

Sau này khi đi học ở Ấn Độ, rồi đi Ba Tư, nhờ khả năng thẩm âm và luyến láy mà mình ca được bất cứ bài ca nào của xứ bạn, dù có giai điệu có lắt léo đặc trưng đến đâu, thậm chí thể thơ ngâm quốc hồn quốc tuý của Pakistan là Ghazal mình cũng có thể học theo được.

Có những lúc ngồi hát một mình, người bạn Ấn Độ thấy vậy hẹn riêng mình ra .. bụi cây chỉ để “Nghe bạn hát những giai điệu thần tiên của Việt Nam. Sao mà réo rắt, dạt dào đến vậy?”. Bạn và mình chả quen nhau, thế mà đứng đó, người lắng nghe, người say sưa hát cả tiếng đồng hồ.

Sau này khi đến với Duyệt Thị Trang, mình mới hiểu ra, cái gọi là “khả năng thẩm âm, luyến láy” đó không phải chuyện thường. Thứ giai điệu lắt léo lên xuống à ơi đó được giới sành âm nhạc thế giới gọi là Microtone, tức Vi Âm. Vi âm là những thang âm chỉ xê dịch 1/4 cung nhạc, hoàn toàn không được biết đến trong hệ thống ký âm/ âm nhạc phương Tây vốn chỉ có xê dịch có nửa cung (thăng, giáng) (nguồn Wikipedia). Ấy vậy mà hệ thống giảng dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam trong các trường học lại quy định cho việc dạy và học nhạc cổ truyền với vi âm thể đồ sộ bằng các ký âm theo kiểu tây phương. Để ký âm được những vi âm này theo đúng nguyên tắc tây phương thì sẽ là một việc cực kỳ phức tạp và rối rắm, chẳng hạn:

Ảnh: Các vi âm ngẫu nhiên nằm ngoài hệ nửa cung của phương Tây. Cung thăng 1/4, cung thăng, cung thăng 3/4, cung giáng 1/4, cung giáng, (hai biến thể của) cung giáng 3/4. (Nguồn: Wikipedia: quarter tone sharp, sharp, three quarter tones sharp;
quarter tone flat, flat, (two variants of) three quarter tones flat).
Gớm từ ngàn năm xưa các cụ nhà quê Việt Nam vưỡn hay gọi là cung già cung non đấy, chới với chơi vơi trong lới lơ ư hử.. ngọt ngào thấm đượm là ăn nhau ở cái 1/4 với 3/4 chết người này đấy!!!! “Mùi” hay không “mùi”, “đậm đà, đẫm chất quê” hay không là ở những vi âm này. Chả thế mà nếu ngân lên một lời dân ca, thiếu đi tí già tí non, sẽ thành nhạc Bắp Rang Bơ ngay 😀

“Trong nhạc truyền thống Việt Nam, khi đặt bản buồn, phải dựa theo hơi Ai, hoặc hơi Ai Oán. Tức là, những chữ nào ngay âm xang thì phải có độ cao của xang già, tức là cao hơn xang một tí, chữ nào thuộc về âm cống phải theo hơi cống non tức là thấp hơn cống một tí. Bài Khóc quốc hồn của Nguyễn Mỹ Ca nghe buồn và rất dân tộc nhờ câu “Bao nhiêu năm sống như tôi đòi” nếu xướng âm theo nhạc Việt Nam là liu, liu, liu, xáng cống xê xang; nếu viết theo ký âm Tây phương thì do, do, do, fa, la, sol, fa. Cống non tức là la thấp hơn la thường, mà cao hơn la giáng (la bémol), xang già là fa, cao hơn fa thường một chút mà chưa phải là fa thăng (fa dièse). Khi hát lại phải rung. Hát như vậy sẽ đậm màu dân tộc. Cũng như quãng thứ 7 (7è mineure) xề – xang là quãng đặc thù của hơi Nam. Mỹ Ca đã viết “ Tim bừng sôi” (liu xề xang / do sol fa) nghe rất Việt Nam, chớ nếu viết liu cồng xang (do la fa) thì nghe giống Tây..” (Nguồn http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-005/dan-toc-am-nhac)

Những thứ “nhạc cổ, nhạc sến, nhạc vàng, cải lương, dân ca, nhạc quê hương..”, thật nghịch lỗ tai với những ai không quen hấp thụ thứ Vi âm này. Nhưng lại là chất đường tinh luyện, thấm vào lòng ngọt lịm, cho những tâm hồn quen được tưới tắm bởi những âm điệu tinh tế.

Không chỉ là Việt Nam, trên thế giới, hầu hết bất cứ dân tộc nào lâu đời, từ Ấn Độ, Nordic, Celtic, Châu Phi.. đến Châu Á.. thì nền âm nhạc đều được xây dựng trên bậc ngũ cung, và xuất hiện những Vi Âm được sắp xếp tuỳ đặc thù của từng nền văn hoá. Chả thế mà mình đã từng xúc động và ngạc nhiên tột độ khi lần đầu tiên nghe những bài ca Celtic, đẩu đâu tận Châu Âu mà sao nghe ngọt ngào tha thiết như nhạc sến quê mình!

“Các giai điệu ngoại lai của âm nhạc phương Tây, các nhạc thổ dân,bản xứ … đều có nhiều cách để truyền tải microtone. Và mỗi nền văn hóa, mỗi truyền thống đều có những microtone riêng như là những dấu lăn tayđiểm chỉchữ ký cho nền văn minh của mình.” (nguồn http://tkxuyen.com/blog/?p=332)

“..Tại hoàn cảnh về lịch sử đưa ra tới hoàn cảnh về tâm lý, tức là ngừơi bị trị luôn coi người thống trị là trên hết, thấy những cái hào nhoáng bên ngoài mà quên cái thâm thuý bên trong. Chẳng hạn như thấy cây đàn piano mấy chục dây thì hoan nghênh nó mà quên rằng cái đàn bầu 1 dây nhưng nói được biết bao nhiêu chuyện đến nỗi nhà thơ Văn Tiến Lê còn nói rằng “Một dây nũng nịu đủ lời, nửa bầu chứa cả một trời âm thanh”…” (Nguồn: http://vietsciences.free.fr/vietnam/amnhac/khoidayamnhacdantocviet02.htm)
Và trong khi nhiều người hớt hải cải tiến đàn dân tộc sao cho giống sự nhiều dây của đàn Piano. Thì trên thế giới, các cao thủ piano lại hì hụi tìm cách sao cho đàn piano được cải tiến và chơi được những vi âm tinh tế. Bạn Ngô Hoàng Trúc Minh khi xem clip này đã nói “cây đàn Piano này chỉnh được dây để chơi microtone, nhưng cũng chỉ là âm thanh chết thôi, chết trong microtone”. Vì hệ thống đàn không phím (nhị, bầu, tranh, violin… ) khi chơi microtone có thể khiến cho âm thanh được biến chuyển liên tục từ microtone này sang microtone khác, mượt mà trong một dải “âm phổ”. Giống như ta được chứng kiến một cảnh thật, so với việc xem một cảnh đã được ghi hình. Dù mịn mấy thì cũng là từ 24 hình/ giây lên 48 hình/ giây thôi, không thể mượt mà sống động như thật (ấy thế mà cũng đã tinh tế lắm rồi!).

https://www.youtube.com/watch?v=d-yY2egBvto

Đàn bầu nhà quêĐàn bầu nhà quê Đàn Piano được cải tiến để chơi được cả nốt già và nốt non (microtonal piano hoặc quarter note piano)Đàn Piano được cải tiến để chơi được cả nốt già và nốt non (microtonal piano hoặc quarter note piano)

Nhìn hai tấm hình so sánh một bên là chiếc đàn 1 dây chứa cả dải âm phổ biến hoá kỳ ảo khôn lường, một bên là một cây đàn piano với hệ thống phím bấm cực kỳ phức tạp mà vẫn không sao truyền tải dược hết sự sống động của các biến âm microtone. Bật cười chợt nghĩ đến câu này của Lão Tử trong Đạo đức kinh

“Nhất sanh Nhị
Nhị sanh Tam
Tam sanh Vạn Vật..”

Vạn vật mà xuất phát chỉ từ một. Ngàn âm chỉ xuất phát từ một thôi. 1 dây mà âm thanh không có giới hạn. 1 dây sanh 2 dây, 2 dây thành 3 dây, 3 dây rồi giờ đàn thập lục cũng thành 29 dây vẫn cứ toát mồ hôi hột là vì chưa thấy hết được sự vô hạn trong một sợi dây.

Tết này, được sống với đam-mê-muôn-thuở-mà-không-nói-ra-thì-đố-ai-biết, hẳn những người quen nhìn mình “sành điệu” trên facebook không khỏi ngạc nhiên khi thấy mình áo lam, tay đàn, ngất ngây sung sướng trong không khí âm nhạc cổ truyền với Duyệt Thị Trang, một gia đình nhã nhạc là hậu duệ của vua Minh Mạng. Ở đây chả có gì nhiều ngoài bạt ngàn rừng, suối và những trái tim nóng rực tình yêu. “Khi đã biết sống với cơm muối dưa thì còn sợ chi đời”.

Duyệt Thị TrangDuyệt Thị Trang

Sáng tối đạm bạc thủ thỉ nhau nghe những tích truyện, những lời tiền nhân gửi gắm qua tiếng đàn, câu ca. Lúc cao hứng mò cua bắt ốc, lúc thâm trầm tận hưởng nhâm nhi từng tiếng đàn.

Nghẹn ngào nhận ra sự hèn nhát bấy lâu của mình khi mất đến 20 năm mới dám tìm về mà vùng vẫy với đam mê.

Tại sao mình phải vượt ngàn dặm xa, tìm về đúng đêm giao thừa, để sống trong không khí ấy?

Vì mình không muốn cảm thụ âm nhạc cổ truyền qua một hệ thống ký âm “không biết đến và không sử dụng vi âm”. Như người ta vẫn buộc đàn dân tộc phải hoà tấu với đàn piano trong mỗi kỳ thi và coi đó là tiêu chuẩn quốc tế để thẩm định khả năng tối thiểu của người chơi đàn dân tộc.

Vì mình muốn được nghe người thày vừa đàn vừa ca lên, vừa mượn những tích xưa để nói lên tâm sự của những làn điệu cổ truyền. Tại sao không có bài nhã nhạc nào của Huế được đề tên tác giả, chỉ trừ bài Long Ngâm? Chỉ với một câu hỏi bâng quơ mà mình được hiểu thêm về một câu chuyện lịch sử vô cùng cảm động và ý nghĩa.

Vì mình muốn được cảm nhận hết những vui, buồn, giận, lẫy.. thật lạ kỳ chỉ với sự luyến láy khác nhau mà trong Một-Phần-Tư nốt nhạc, tiếng đàn và giọng ca đã thể hiện được hết những tâm tình. Cùng một câu nhạc mà khi nhớ thương sầu thảm (Lý con sáo), khi hân hoan (Lý mười thương..). Thậm chí chỉ với một nốt “Xang” mà giận hờn, vui tươi.. tả không hết. Nốt Xang tương ứng với nốt Đô của phương Tây, nhưng đố nốt Đô thể hiện được ngần ấy cung bậc mà không bị các giáo sư đánh cho và gọi là “sai xướng âm” đấy 😀

Thày dạy trò, mà hình như không dạy, thày cứ kể chuyện, trò lúc cười khanh khách, lúc chực khóc, lúc khoái trá, lúc ngẩn ngơ…cùng với những ẩn ý sâu xa và quan niệm nhân sinh. Tại sao chỗ này tay trò phải rung dây xang, tại sao những ngón tay phải lướt như vầy, tại sao bài nhạc này lại gọi người thương về với mình “tài tình” đến thế.. Rằng “Tay gảy dây là tiếng nói của lý trí, còn tay nhấn nhá những vi âm huyền ảo mới là tay của con tim”..

Thày trò cùng nhau tâm đắc hai chữ “U Sướng Tình”, cũng đúng vào “giai đoạn” trò vừa mới hiểu ra cái thú của đau thương trên con đường hành đạo, như một điều tất yếu và lành mạnh, nghiễm nhiên thấy được khi “giải thoát”. Nói thì dễ, mà mấy ai đã thú được với đau thương, mấy ai đã sướng với u sầu 😀 (dù trong sâu thẳm thiên hạ tất thảy cũng đang âm thầm tự sướng cả thôi 😀 )

Thánh nhân đã dạy: luôn giữ cho tâm an lạc. An và lạc với đau thương chẳng phải là Luôn An Lạc đó sao 😀 Luôn ngon miệng mà nhai rơm cũng thấy cái thú của sự khô rát thì chả phải là ngon lắm à 😀 Đạt được cái khoái cảm trong đau buồn thì đâu còn là buồn nữa 😀

“Lòng dặn lòng

Ai mặc ai

Thương cứ thương

Nhớ cứ nhớ

Chuyện vui cười

Người ở đời

đừng đem dạ từ chối

Ai mà thoát khỏi ra vòng nợ duyên’

(Xuân Phong, Ca Huế)


Vậy thì hưởng thú đau thương cho bõ cái vòng nợ duyên đi chứ, nhịn làm gì, cưỡng làm chi, rón rén cho mệt 😀

Nói chung là tâm đắc, tâm đắc vì được hít khí giời, nghe truyện cổ, được cao nhân chỉ giáo, đã thế còn được tắm trong năng lượng vi tế .. như dưới đây giải thích, thế này thì sao mà không thành tiên 😀

Không phải là bênh vực cho cái gọi là truyền thống, vì nó là gì thì chưa chắc chúng ta đã biết được rõ ràng… nhưng tự phủ nhận những điều mình cảm thấy, tự phủ nhận cách chúng ta tri nhận vấn đề, tự bỏ đi một phần phong phú trong cuộc sống, phải chăng đó là cách mà nhiều người đang làm? Chuyện của Lưu Chính Phong và Khúc Dương trưởng lão, khúc Tiếu ngạo giang hồ là chuyện hoàn toàn có thật trên cõi đời này.

Bản chất của mọi sự vật là sự dàn trãi năng lượng qua rung động trên những phổ tần số. Chính chúng ta cũng là những tổ hợp của những rung động, tinh hơn hoặc thô hơn như vậy. Và bằng cách lắng nghe các microtone (vi âm) của các octave (quãng tám) nội, chúng ta có thể có được kinh nghiệm cảm nhận những mức năng lượng cao hơn và tinh tế hơn, những mức năng lượng làm thành những phần không thể tách rời của chính chúng ta. Và cảm thấy được điều này, chúng ta sẽ hiểu rằng cao hơn (higher) có được bằng cách nhìn vào bên trong (inner).

Nhưng chính xác thì, làm sao có thể được như vậy? Nếu như tần số của các microtone chỉ cao hơn hay thấp hơn một chút xíu so với các nốt của octave chứa chúng, thì làm sao chúng có thể giúp chúng ta “chạm” được vào các tầng năng lượng cao hơn bên trong chính chúng ta?”

Tác giả đã chứng tỏ bản chất vật chất của các mức (level) khác nhau có liên hệ với nhau: bản chất của thế giới 48 (nốt) được cấu thành từ các octave nội của thế giới 24 (nốt), và thế giới này được xây dựng trên các octave nội của thế giới 12 (nốt) và cứ như vậy …

Các giai điệu có chứa microtone có hai mức có liên hệ với nhau theo cùng cách như hai lớp thế giới liên hệ nói trên: các octave nội và các octave ngoại. Âm nhạc có microtone cần đến các nốt của octave ngoại để chứa chúng, vì một microtone chỉ là chính nó trong mối liên hệ với các nốt octave ngoại. Nếu đứng một mình, các microtone chỉ là những nốt bình thường không hơn không kém. Nhưng khi được chơi trong ngữ cảnh các nốt octave ngoại, nó có “quyền năng” đạt đến các octave nội.

Được gợi ý bởi các microtone, người nghe nếu tập trung đủ sẽ có thể nối chiếc cầu qua khoảng cách giữa các mức bên trong chính họ, và do đó ý thức được sự tồn tại của một mức năng lượng cao hơn và tinh tế hơn ngay bên trong họ, điều không thể làm được trong những trạng thái hàng ngày khác.” (nguồn http://tkxuyen.com/blog/?p=332)

Đấy, hỏi làm sao mà không thành tiên?

 

English, Đạo

The Modern Taoist Sage

 

By Jos Slabbert

1. A harmony of paradoxes

A wise man knows himself to be
more precious than fame,
and so, obscure, remains.

The Taoist sage consists of paradoxes that would mortify most people, but do not seem to bother him at all:

The sage

– is detached, yet compassionate;
– enjoys life, yet does not cling to it;
– is a perfectionist, yet indifferent to success or failure;
– is a man of honour, yet avoids reaping honour;
– ignores ethics and morals, but lives a life of the highest moral order;
– does not strive, yet achieves;
– knows the answers, but prefers to remain silent;
– has the innocence of a child, but incredible inner strength.

These paradoxes are in harmony in the sage, the same way nature itself seems to be a harmonious blend of paradoxes. This makes it difficult to describe the sage in conventional terms and categories. In fact, in most societies the sage’s qualities would be seen as negative, even harmful.

2. Close harmony with nature

All things end in the Tao
as rivers flow into the sea.

The Taoist sage lives in close harmony with the natural rhythm and flow of life. His closeness to nature is organic and spiritual. It is undogmatic and vital. Even in the midst of the city, he remains intimately close to the instinctual and natural in himself, and his innate goodness guides him so that he never becomes part of an ignorant society’s furtive scramble to reach an imaginary pinnacle.

He feels at home in nature – in deep forests or on misty mountains – away from the artificial and the contrived. When moving in artificial corporate environments, the sage is true to his natural impulses, and even though he does not feel at home in a milieu of envy and greed, he remains if not untouched, then at least unstained by the destructive negative emotions around him.

3. Travelling light

The sage gives himself up
to whatever the moment brings.
He knows that he is going to die,
and he has nothing left to hold on to.

The Taoist sage, in harmony with his natural environment, lives a carefree life, and he does so effortlessly, in the full knowledge that happiness cannot be bought or won, or accomplished, for it is not a prize, a commodity, an aim or a position. In fact, even the attainment of happiness is an aim the sage does not consider. He knows thinking about eating cannot replace the joy of eating. Instead of thinking too much and talking too much, he lives contentedly in what most sophisticated people would see as a simple, naive way.

The sage lives an unostentatious and modest life by the standards of a world dedicated to material gain and vanity. He lives with little desire and almost no expectation. If wealth should happen to come his way, he would accept it graciously, but without clinging to it. If necessary or unavoidable, he would relinquish his material possessions with hardly a whimper.

He relishes every moment of life there is to enjoy, and suffers with grace when his inevitable turn to suffer has arrived.

4. Equanimity

When there is no desire,
all things are at peace.

Calmness in victory. Tranquility in defeat. Serenity when confronted by the inevitability of suffering. The sage does not rely on externals to provide him with spiritual strength, for he knows: dependence on external factors – such as status, wealth, popularity, hedonism, success, knowledge and relationships – is the reason why modern man crumples so easily in the face of defeat, failure or loss.

The sage is indifferent to success or failure. He understands that life driven by self-centered ambition will never make sense, no matter how successful you are or with how many positive externals you care to adorn it.

Life itself acquires meaning only when you satisfy your spiritual needs by living in total harmony with the Tao.

5. The peaceful warrior

There is no greater illusion than fear,
no greater wrong than to prepare to defend yourself,
no greater misfortune than having an enemy.

Whoever can see through all fear
will always be safe.

The sage is a man of peace. Yet, he carries within him the formidable qualities of a warrior.

He abhors weapons. He detests warfare. The great warrior, according to him, is the one who has avoided conflict and has never had to use violence. As a warrior, he has learnt the art of subduing his adversary without humiliation.

He has the courage of someone who has conquered himself. He does not cling to life, nor is he driven by his own passions. He is unintimidated by death. He is able to face impossible odds and the worst adversaries with grace and courage.

He is no pacifist. When left with no other option, he will fight skilfully and dispassionately, but he will not rejoice in victory, for he sees victory parades as the gory exultation of ignorant butchers. Nor does he fear defeat: it does not carry the sting of humiliation to someone who has very little ego to hurt.

6. The invisible tree

Do you have the patience to wait
till your mud settles and the water is clear?
Can you remain unmoving
till the right action arises by itself?

The sage does not believe that the action makes the man. He has not fallen for the misconception that it is the fruit that makes the tree good. He knows the fruit is good because the tree is good. The sage realizes you have to start with yourself first. It is what you are that turns a deed into something good. He will therefore not become a “man of action” in a vain effort to prove his virtues. The sage knows virtue in motion easily turns into vanity and even cruelty, in this way defeating its own purpose. He would rather be a man of no influence, carefully avoiding self-centered action, and he would obey those natural, spontaneous impulses that spring from genuine compassion.

For this reason, the sage does not make a show of charity. You will never see him smiling at flashing cameras while presenting a donation to some charitable organisation. The sage understands that any form of public recognition or acclaim could diminish any positive spiritual affects a “good deed” could have had on all parties concerned. In fact, it could corrupt and turn virtue into vanity. It could easily be used to give a respectable veneer to corruption and greed. We have all witnessed the spectacle of charity as a public relations exercise. We have all seen how organisations, notorious for their merciless exploitation of man and nature, parade their gifts to charities just in time to raise their turnovers at festive seasons. We have been subjected with nauseating regularity to the sickening public display of charity by politicians hunting for votes just before elections. The sage shuns the kind of charity which is in the service of power and profit, and which comes to fruition in the glare of limelight.

However, if necessary and unavoidable, the sage will go public, but he will do so with the apprehension of someone crossing a winter river covered by thin ice, aware of the fact that publicity weakens the spiritual benefits for all participants.

The sage embraces the anonymous donation, for he knows it inspires and moves civilization forward. The hidden act of mercy is an act of pure compassion; it is the living proof of the victory of the spirit over the ego, which is the essence of an enlightened society.

7. The outsider

Ordinary men hate solitude.
But the sage makes use of it,
embracing his aloneness, realizing
he is at one with the whole universe.

The sage is a loner. He avoids unnecessary contact with people. He does not feel at home with small talk. He abhors gossip. He avoids talking too much. Most people would probably find his company dull. Not that he would mind, for he is indifferent to his own popularity.

The sage is timeless. He lives outside the collective paradigms and ideologies controlling and manipulating society at any given time. He seems immune to even the subtlest efforts of indoctrination or manipulation.

He moves in society without being immersed in it. He stands aloof from the conceptually fashionable. He does not become part of socially acceptable prejudices. He refuses to participate in the pretentious verbal exhibition of the latest in intellectual chic.

Historic paradigm shifts do not unsettle him. He knows that everything changes and yet nothing changes. His perspective is timeless, vaster than any scientific dimension. For this reason the sage remains calm in times of upheaval. Even when humanity is losing its faith in whatever it has lately invested its faith, the Taoist sage remains unperturbed. He does not invest his faith in man-made concepts and therefore has no faith to lose.

The sage lives outside the dictatorial reach of the “group mind,” untouched by the mindless Zeitgeist of his era, and he therefore has little part in the collective guilt of the society of his day. But he will try to live on the periphery of human folly as unobtrusively as possible. Only when he is left with no other choice, will he actively oppose the predominant delusions of his day, and he will do so courageously, suffering any resulting persecution with quiet dignity.

8. The outlaw

Throw away holiness and wisdom,
and people will be a hundred times happier.
Throw away morality and justice,
and people will do the right thing.

The sage does not fret over rules or laws. He acts in seeming oblivion of ethics or morals. He does not work out first if something is acceptable to society before he acts. He lives a spontaneous life. He simply follows his natural urges, and yet these urges are so virtuous, so in total harmony with the Tao, that he lives a life of the highest moral or ethical order. But he does so unconsciously and without a trace of contrivance.

Of course, the sage will inevitably break rules or laws where they stand between him and compassion. The more unjust the society he lives in, the more will he come into conflict with those laws that violate common decencies. The sage could in this way involuntarily become “political,” but he would do so reluctantly and undemonstratively, always searching for an amiable solution. It is exactly because of his obvious distaste of political life that the sage becomes so effective when he takes up a political cause.

9. The non-striver

The pursuit of knowledge continuously
creates the thirst for more knowledge.
But whoever lives the way of the unfathomable
becomes humbler everyday.

The Taoist sage is not interested in knowledge as a form of power. He does not want to win arguments. He knows winning arguments does not change human beings for the better. Neither does he want to win arguments by being silent. He does not want to argue. No hidden agenda can be traced in him. He loves to be silent, truly silent.

The sage knows that knowledge inevitably leads to contention – that it should be treated with the kind of reverence and fear reserved for weapons of destruction. So he will avoid becoming competitive in his knowledge, and he will be careful to shield his knowledge from the jealous gaze of others.

The Taoist sage does not have the Western intellectual’s desperate belief in the liberating power of knowledge. Knowledge, he instinctively knows, is just another form of bondage, just another commodity with which to parade one’s superiority. It is just another means to control and to manipulate. As such, it is a form of power that has nothing to do with the bliss that comes when living in harmony with the Tao. Therefore the sage would rather sit in the shade of a beautiful tree, sipping wine in blissful union with his surroundings, than waste time in the hectic pursuit of knowledge that ultimately leads to greater bondage.

The Taoist sage is not interested in acquiring wisdom, for he knows the wisdom of the sage is often perverted to tools of manipulation and destruction by the powerful and the wicked. He would point out how books containing wisdom, in particular books claiming divine inspiration, have been misused by the powerful to instigate and to justify evil.

The Taoist sage does not consciously try to acquire virtue. He knows that virtue in motion inexorably evaporates and leads to vanity and desire for fame. In their desire for fame, men crush each other and compassion turns into cruelty.

To the Taoist sage, knowledge, wisdom and virtue too easily become the tools of the manipulators, and therefore the very source of evil.

The Taoist sage instinctively knows that he could only become knowledgeable, wise and virtuous by not making these three qualities his ultimate goal.

10. The silent one

Teaching without words,
performing without actions:
that is the sage’s way

The Taoist sage understands that it is mostly futile to argue about imponderables. He realizes that our concepts of God are imperfect images created by our own minds. He would not argue about whether the Tao exists or not. He knows that you cannot understand the incomprehensible and prove the unprovable. He accepts that man is partially blind, in particular to spiritual dimensions, and that arguing rarely increases man’s ability to see more clearly.

The sage lacks the zeal of bright-eyed young missionaries. He appears withdrawn, even suspicious, and he is wary of sharing his insights with anyone. He rarely communicates his more profound views verbally, for he realizes that understanding, insight and perspective mostly grow from direct personal experience, and rarely emerge from hearsay, secondary sources or catechistic instruction.

Insight, he knows, is untransferable. It is not something you can give to somebody, like a gift. Every person must come to his own understanding at his own time, in his own way and according to his own experience.

The sage knows language is limited. It is useful, sometimes even essential, for the communication of concepts that might bring the individual closer to insight. But then the recipient must be at a stage of his development where he will react positively to the concepts communicated. He realizes that the communication of concepts to people who are not ready for them is a waste of breath and could even be counterproductive.

Acute sensitivity to the needs and emotions of other people is therefore a crucial part of the sage’s communicative skills. The sage is a good listener and he has the sensitivity to know when verbal communication will be effective. He will seldom convey his views to larger audiences or strangers.

Being aware of the dangers and limitations of language, the sage will only speak when it is unavoidable or crucial, and he will do so with caution, eloquence and skill. But his natural state is one of silence.

The sage is acutely sensible of the fact that truth tends to be corrupted rather than enhanced by verbal communication. He has not fallen for the Christian-Muslim-Jewish superstition of the unblemished power of the Word to transmit virtue and transform people. The Word, the sage knows, is vague and open to corruption. Its effects are often unpredictable and uncontrollable. It is capable of infecting its environment with the malignant even as it tries to transmit the wholesome. So the sage prefers to be silent.

He does not carry with him the immodest air of indispensability and urgency found among some religious groups who seem to fear that the spirit might become extinct if they should stop spreading it by Word, almost as if they underestimate God.

The Taoist sage trusts the Tao so much that he sees the Word as supplementary, often superfluous, and the individual as dispensable.

Like a child, he believes nothing can go wrong, for the Tao is the mother of all good things.

He does not underestimate the Tao.
He knows the Tao does not really need him.
So he prefers to be silent.

11. The innocent one

He who is in harmony with the Tao
is like a new-born child.

The Taoist sage operates instinctively, intuitively and spontaneously. Like a child, he is unaware of his innocence and his virtues. His compassion is as natural to him as breathing, and he is as unaware of it as he is of his own breathing.

He instinctively moves in close harmony with nature, like a baby snuggling up to its mother’s warm breasts.

His ignorance of his own virtues is his most endearing quality in a world satiated with pomposity.

12. The inferior one

Other people are bright;
I alone am dark.
Other people are sharp;
I alone am dull.
Other people have a purpose;
I alone don’t know.
I drift like a wave on the ocean,
I blow as aimless as the wind.

The Taoist sage is often not taken serious by “men of the world”. Somebody who cares so little about material wealth could only be judged as inferior and foolish by a world intoxicated by material possession. Someone so untouched by hierarchical structures could only be a failure in the “age of the manager,” which measures success by one’s ability to manipulate and to rule. Someone who is honest and open like a child can only be an imbecile to a world obsessed with devious manipulation and power.

Not for the Taoist sage the compulsive preoccupation with several problems simultaneously. He does not fret about his future strategies while frantically trying to deal with his immediate problems. He does not use his cellular phone while simultaneously eating and negotiating with someone across the table. Unlike your ambitious managerial type, he does one thing at a time, and enjoys doing it. He eats when he eats, sleeps when he sleeps, and enjoys company for the sake of company. He lives now and now only, for he knows the past is past and the future mere fiction.

He will only take upon him as much as he can handle without losing his compassion. He knows that being too busy inevitably leads to spiritual starvation and distress, and the loss of meaning to life.

The sage does not move with the counterfeit self-assurance of your crawler up the hierarchical ladder. He is totally honest about his own doubts and shortcomings, as well as his disagreements with authority or management, to a point of what to the world is naivety. He does not think in hierarchical categories and he refuses to choose friends according to their relative usefulness to him in his social, business or corporate environment. He is kind even to people who are mobbed by management and their lackeys.

Hesitantly, he moves among society as if on thin ice, withdrawn like a guest in a strange house. He is wary of any group, for he realizes that a group is often worse than the sum total of its members’ inflated egos and prejudices. He distrusts committees and councils, for they often legitimize prejudice. He refuses to have anything to do with cliques and societies, who often boost their own egos at the cost of others. He avoids meetings and gatherings, where gossip and meanness are often given respectability. He is disinclined to become part even of groups with the loftiest ideals, for grand schemes often serve as facades to ego trips towards fame and prestige.

In a Vanity Fair of brash, inflated egos, he prefers to be invisible. In a pretentious world of self-aggrandizement where status rules supreme, the sage longs to remain unnoticed. In a society clamouring for public honour and fame, he remains out of sight.

13. The failure

If you want to take control of the world and run it,
I can see that you will not succeed.
The world is a spiritual being,
which can’t be improved.
To try to manipulate and control it
is to create disorder.
To try to stabilize it
is to destroy it.

The Taoist sage would be derided as inactive and indecisive by “the man of action”. The sage is innately suspicious of public action, for he realizes it is often a compulsive vanity trip leading to harm.

The sage believes in the virtues of non-manipulative action and non-interference, of containing his influence, of reducing his ego, of remaining silent. He acts when compassion dictates, and his actions are often unpremeditated and spontaneous. He prefers to work out of reach of the public eye. Whatever he does, he does well, but he would finish what he has to do, and then retire, without clinging to his achievements, careful to avoid any honour, influence or advantage it might bring him. He clings neither to responsibilities nor to positions. He is never possessive.

The sage knows the only influence that moves the spirit forward is the presence of character based on compassion and integrity. Character cannot be developed by the crude exhibitionism of modern role models; nor can enlightenment be inspired by your upper-middle class ideal: the smooth respectable perpetration of egotism glossed over by education, good manners, proper language, affluence, good taste and just the right touch of religiosity. Least of all can civilization be improved by the corrupting and self-inflationary “management” of human beings and their lives.

The Tao sage avoids “managing” other people’s lives, for he knows the world is a spiritual thing that should not be controlled or interfered with. He tries to restrict his own influence on others. He will rather suffer loss than manipulate others to reach his aims. Freedom to him has spiritual implications: it is to avoid any form of interference or manipulation. He therefore rejects the basic tenets of power. He prefers to be seen as a loser if success entails tampering with the lives and fates of others.

The Taoist sage is honest in his relationships, never calculating. He does not flatter. He would treat his “superiors” with the same honesty than he would deal with his “colleagues” or “subordinates.” He does not cringe when threatened, nor laugh ingratiatingly at the boss’s jokes. He has no hidden self-promotional agendas. Responding to his natural impulses, he would spontaneously do what is virtuous, and instinctively avoid the false and the mean. He would participate in an organization and obey orders as far as they are of benefit to sentient beings, but he would go no further, no matter what it might cost him in terms of career, promotion or prestige. His incorruptibility is remarkable, for it springs from the inner strength of a person who has diminished his own ego to a degree where he has become independent of the judgement of society. He is essentially, genuinely anarchic: he is master of himself, and he will not be controlled by any system of power.

What the upwardly mobile person would find unforgivable in the Taoist sage is his lack of ambition. The sage avoids a life brimming over with goals and objectives, which he finds a hindrance rather than a help. He realizes that some goals might be essential for survival, and some might even be useful to make life pleasant. Most goals, however, do not give meaning to life. In fact, striving with great effort to reach numerous goals often destroys compassion as one becomes insensitive to the needs of others.

The sage instinctively avoids becoming too busy, which he sees as the worst form of laziness. Mostly, being too busy is nothing but the effort to sidestep the issues that really matter in your life. No matter how lofty or altruistic your goals might seem to be, being too busy is often a form of egomania, regularly accompanied by a martyr complex, in which the protagonist overtly or subtly displays how much he is “sacrificing” himself and “suffering” for “others” or for “the company” or some “worthy cause”. Instead of giving meaning to your life, hyperactivity can create delusions which alienate you from your own self and increase your confusion.

Being too busy is like running fast without knowing where you are going. The sage refuses to run blindly in any direction. He moves at leisure with his eyes wide open, sensitive to the needs of living beings around him. Like the Good Samaritan, he will have enough time to help his fellow traveller lying, helpless, next to the road.

14. The detached one

Other people are excited,
as though they were at a parade.
I alone don’t care,
I alone am expressionless,
like an infant before it can smile.

The Taoist sage seems strangely detached. He functions unconstrained by his own emotions. He knows that his own observations, emotions, thoughts, concepts and judgements are just ripples on the mind’s surface, inconstant and perpetually changing. He realizes that the mind can only reflect compassion clearly – like a tranquil pool the perfect moon – when it has become free of the ripples of thoughts and emotions.

Acts of mercy are not acts of passion to him: they come as naturally to him as sneezing or falling asleep.

Therefore you can rely totally on the sage: his mercy is not dependent on his emotional state, his affinity or aversion to an object, what he believes or any thoughts that might be disturbing the tranquility of his mind.

In a world of inconstancy and illusion, his compassion is constant and real.

15. The heathen

Therefore the sincere man concerns himself
with the depths and not the surface,
with the fruit and not the flower.
He has no ego to follow.
He dwells in reality,
and lets all illusions go.

By almost any Western standard, the sage qualifies as irreligious. Stale ritual has little meaning to him. Even if liturgy should be filled with emotion, the sage remains aloof and suspicious of it. Emotions come and go, and religions that depend on something so volatile as emotions usually forsake their followers when they need comfort most.

Prayer to the sage is not asking God for favours.
Prayer is to dissolve the ego and to become still.
The Taoist sage has experienced it:
the purest revelation is stillness and silence.

16. The coward

The sage views the parts with compassion
because he understands the whole.
His constant practice is humility.
He doesn’t glitter like a jewel
but lets himself be shaped by the Tao,
as rugged and common as stone.

The Taoist sage shuns competition, for it nurtures egotism, fosters brutality and justifies humiliation. The triumphant pose of the strutting victor is a sign of spiritual bankruptcy to the sage. The demonstratively humble acceptance of the prize, with the losers looking on in awe, is the pinnacle of vanity, and might corrupt even the purest of hearts.

He does not see God as his personal mentor, coach or advisor supporting him at the cost of others as he moves up social or corporate ladders. He realizes the Calvinistic urge to prove your closeness to God through competition and the outward show of success is a futile exercise in vanity. Proving your superiority at the cost of somebody else is a proof of inferiority and ignorance. Trying to show you are more in God’s favour than someone else is evil. Insulting other religions to demonstrate your own nobility is an insult to your own religion and yourself. Persecuting because you differ on the incomprehensible, as Christians or Muslims or Jews have been doing in their sad histories, is a form of barbarism.

To the sage, feelings of superiority based on adherence, creed, position, possession, appearance, intelligence, performance or achievement are symptoms of spiritual poverty. The sage’s vision is non-divisive. It is one of unity. But he does not see unity on a grand political scale. He lives his own vision of harmony in the simplest of ways in his everyday life. He is quite simply unaffected by differences between people, and he is untouched by pride, vanity and greed.

17. The traitor

Nothing is impossible for him.
Because he has let go,
he can care for people’s welfare
as a mother cares for her child.

The Taoist sage has the tolerance of someone who knows his ideas are less important than his own well-being. He lives with the constant awareness that his convictions are not as precious as the well-being of others.

He has the patience of someone who knows his insights are limited and subject to continuous change.

He has the humility of someone who realizes what really matter are mostly beyond the grasp of mind and language.

Creating discord to defend your own limited vision is absurd to the sage who believes that harmony is the essence of meaningful life.

Therefore the sage does not take sides in intellectual pursuits.

He does not wear the colours of any sect or party.

He does not wave flags patriotically in the wind.

He does not sing anthems with tear-filled eyes.

He refuses to “die for his country”.

He refuses to kill for some nationalistic cause, or in patriotic fervour, or to satisfy the greed of his rulers, or because he has fallen for some propaganda.

He is a true warrior. He would rather be declared a traitor than betray himself. He has conquered himself and therefore cannot be conquered.

18. The mystery

Look, and it can’t be seen.
Listen, and it can’t be heard.
Reach, and it can’t be grasped.

The Tao is nowhere to be found.
Yet it nourishes and completes all things.

God or Tao or the Absolute or Allah or Jehovah or Brahma – or whatever you prefer to call whatever is or is not wherever or nowhere or everywhere:

It is not a feeling that can be conjured up in liturgy.
It is not a riddle that can be solved intellectually.
It is not a concept that can be captured in science or philosophy.
It is not a dogma that can be formulated in Theology.
It is not something lurking in the ultra-depths of our psyche.
It is not going to be discovered in our DNA.
It is not something still undetected on the sub-quark level.

And yet it is all of these.
For all things come from it
and all things return to it.

The whatever-you-prefer-to-call-it becomes real to you if you live in harmony with it.

It is there to be lived, and that’s that.

You either live it, or you don’t.

The Taoist sage lives it, and yet he doesn’t.

Đạo

Làm sao giữ lại

Làm sao giữ lại điều không thể..
Cát biển tuôn dần qua kẽ tay,
Làm sao miên viễn… đời dâu bể
Bảo gió trên ngàn thôi cuốn mây!
Làm sao níu áo thời gian lại
Ngắm nụ xuân thì chưa úa môi.
Làm sao tìm thấy dòng sông cũ
Lạ lẫm chiều nay bến lỡ, bồi.
Làm sao giữ được tình ban sớm
Chưa kịp hoàng hôn đã úa màu.
Ta trách sao người thay đổi vội
Chắc gì.. ta chẳng đổi thay đâu!
Làm sao nắm giữ ngày nhung lụa
Hào phú.. vang danh của một thời.
Phút chốc một chiều bao ” cái của..”
Đồng tình đội nón chạy xa xôi.
Soi gương thấy nụ cười năm đó
Chẳng biết vì đâu.. méo mó rồi!
 Làm sao giữ được điều không thể…
Cầm bằng như… nước cuốn hoa trôi.
-Vốc nước lòng tay khôn giữ được
Mọi vật trên đời cũng..  rứa thôi!
Thích Tánh Tuệ
Đạo

Im Lặng


Tráng Sỹ 

Im lặng không phải là câm
Im lặng là để ngấm ngầm ra tay!

Im lặng không phải là cay ( cay cú )
Im lặng là để phơi bày trắng đen

Im lặng không phải là hèn
Im lặng là để chờ phen trả thù

Im lặng không phải là ngu
Im lặng là để đánh đu với đời..

Thầy tu 


Im lặng không phải là câm
Im lặng là để quán Tâm của mình

Im lặng không phải bất bình
Im lặng để khỏi sự sinh trùng trùng..

Im lặng để sống Đại hùng
Thắng mình hơn thắng ba quân bên ngoài.

Im lặng, chẳng hơn thua ai
Im lặng là để tâm này thênh thang…. 

Thích Tánh Tuệ Bodhgaya 1/4/13